NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Tổ chức và cấu trúc của cơ quan sở hữu trí tuệ:
Trong tổ chức và cấu trúc của các CQSHTT có sự khác biệt đáng kể và hầu như mỗi nước là một ví dụ cho chính mình. Các cơ quan khác nhau có thể cũng khác biệt về những nhiệm vụ phải thực hiện thêm: một số cơ quan có thể được yêu cầu lưu giữ đăng ký kinh doanh (như ở Pháp); một số có thể giải quyết vấn đề liên quan đến việc bảo vệ cạnh tranh (như ở Pê-ru); một số có thể chịu trách nhiệm đối với toàn bộ hệ thống SHTT (như ở In-đô-nê-xi-a), hoặc có thể chỉ giới hạn ở việc quản lý bằng độc quyền sáng chế.
Một xu thế đang xuất hiện theo hướng tạo ra mức độ độc lập nhất định về thể chế và tài chính cho CQSHTT trong hệ thống nhà nước. Xu hướng này được đảm b bởi thực tế là cơ quan SHTT trực tiếp nhận khoản thanh toán cho các sản phẩm và dịch vụ của mình và có khả năng hoạt động với tư cách là cơ quan hoặc tổ chức độc lập, tự chủ về tài chính. Đây là trường hợp của một số nước, gồm Nhật Bản, Mê-hi-cô, Pê-ru, Thụy Sỹ, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, ngay cả với sự dàn xếp về tự chủ tài chính, các cơ quan này vẫn chịu sự điều phối về chính sách của chính phủ.
Có một số lợi thế gắn liền với khái niệm CQSHTT độc lập. Theo quan điểm chính trị, đó có thể được coi là một sự phản ánh về chính sách ưu tiên của chính phủ. Sự độc lập về tài chính có thể cho phép Cơ quan phát triển một cách tiếp cận toàn diện, linh hoạt và tập trung hơn đối với các vấn đề khác nhau mà cơ quan đó gặp phải. Điều đó cũng tạo ra khả năng cho CQSHTT sử dụng các nguồn thu từ đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá và đơn khác để đầu tư cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ được chào hàng cung cấp, bao gồm hoạt động tiếp cận vổi công chúng, nộp đơn điện tử, báo cáo xét nghiệm và cơ sở dữ liệu SHTT Điều đó có thể mang lại động lực mạnh mẽ cho CQSHTT để tiếp tục cải thiện dịch vụ khách hàng và cũng để thúc đầy sự phát triển tài sản thuộc SHTT Do có một sự kích thích nội tại nhằm khuyến khích phát triển danh mục bằng độc quyền sáng chế, nên CQSHTT có thể được thúc đầy mạnh hơn trong việc xúc tiến hoạt động SME và nói chung là để làm cho hệ thống thân thiện hơn với người sử dụng. CQSHTT sẽ được khuyến khích nhiều hơn để đáp ứng nhanh hơn và toàn diện hơn nhu cầu và đòi hỏi của cộng đồng kinh doanh, đồng thời, với ý nghĩa là kết quả của những nỗ lực thành công về mặt này, để giảm bót các khoản phí của mình khi hệ thống trở nên hiệu quả hơn. CQSHTT sẽ thích ứng nhanh nhạy hơn với những thách thức về chính sách và thực tiễn. Ví dụ, cơ quan có khả năng giảm những khoản phí hoặc tạo ra một mức phí linh hoạt dựa trên thu nhập của chủ thể nộp đơn mà không cần phải được phê duyệt theo con đường lập pháp hoặc hành chính vì có thể làm cho công việc đó bị chậm trễ. Những ưu điểm về tính linh hoạt và sự nhanh nhạy như vậy phải được cân nhắc thận trọng trước yêu cầu CQSHTT phải hoạt động trong sự phối hợp với chính sách và mục tiêu quốc gia về SHTT Mỗi nước sẽ phải xem xét các vấn đề này và tiến hành điều chỉnh để đạt được sự kết hợp tốt giữa sự độc lập về tài chính và sự phối hợp về chính sách.
2. Những thách thức mới:
Trong kỷ nguyên của sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và vòng đời ngắn của sởn phẩm, CQSHTT ngày càng chịu áp lực phải đầy nhanh tốc độ thực hiện các thủ tục của họ trong việc cấp bằng độc quyền sáng chế và đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Đặc biệt, trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, nơi sự đổi mới diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc, thủ tục cấp bằng độc quyền sáng chế dài dòng và tốn thài gian tạo ra nguy cơ làm suy yếu tiềm năng của hệ thống SHTT đối với việc thúc đầy hoạt động đổi mới và sáng tạo công nghệ.
Điều tới quan trọng là trong khi duy trì tính hiệu quả và thận trọng của mình, hệ thống SHTT vẫn phải trở nên khẩn trường và có khả năng thích ứng ở mức tối đa có thể để nâng cao vai trò của nó trong việc thúc đầy hoạt động đổi mới và tạo ra cho cộng đồng kinh doanh khả năng khai thác nó được nhiều hơn và tốt hơn. Nhiều Cơ quan bằng độc quyền sáng chế đang có những tiến bộ đáng kể nhờ đặt ra mục tiêu đạt tốc độ cấp văn bằng bảo hộ nhanh, tăng cường nhân lực của họ, tự động hoá thủ tục về đơn và xét nghiêm cũng như cải thiện hoạt động hợp tác quốc tế.
3. Yêu cầu ngày càng tăng đối với cơ quan sở hữu trí tuệ:
+ Chất lượng của quyết định: Tính nhất quán của quyết định với các tiêu chuẩn quốc tế đã được hài hòa.
+ Nhu cầu vé tốc độ: Nhu cầu ngày càng tăng vé việc đưa ra quyết định nhanh chóng, vì sự thay đổi kỹ thuật nhanh và vòng đời sản phầm rút ngắn.
+ Cơ quan sở hữu trí tuệ:
Nộp đơn nhiều hơn: Số lượng đơn ngày càng tăng.
Nhu cầu vé chuyên môn: Sáng chế cần xét nghiệm phức tạp hơn và thông tin cần tra cứu nhiều hơn.
4. Chi phí người nộp đơn phải trả khi yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế:
4.1 Lệ phí:
Việc nộp đơn yêu cầu bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và đạt được, duy trì một bằng độc quyền sáng chế là một công việc tốn kém. Có thể phải chi phí từ 10.000 USD đến 100.000 USD (chia ra trong suốt cuộc đời của bằng độc quyền sáng chế) để tìm kiếm và duy trì sự bảo hộ, thậm chí chỉ đối với một sáng chế trong một vài thị trường lớn về bằng độc quyền sáng chế. Các số liệu này có thể còn cao hơn nếu bằng độc quyền sáng chế được yêu cầu cấp ở nhiều nước. Ngoài việc chuẩn bị một đơn bằng ngôn ngữ của nước xuất xứ, chi phí dịch đơn sang những ngôn ngữ khác, việc thanh toán phí duy trì hiệu lực trong nhiều năm và chi phí luật sư ở những nước khác nhau có thể chiếm phần lớn trong tổng chi phí. Lệ phí phải nộp cho CQSHTT nói chung bao gồm lệ phí nộp đơn ban đầu, lệ phí tiến hành tra cứu và xét nghiệm, lệ phí cấp văn bằng và lệ phí duy trì hiệu lực hàng năm. Nói chung, duy trì hiệu lực một bằng độc quyền sáng chế trong thời hạn bảo hộ tối đa của bằng độc quyền sáng chế là việc tốn kém, đặc biệt là ở một số nước có áp dụng hệ thống yêu cầu chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực bằng độc quyền sáng chế càng ngày càng cao hơn khi thời điểm kết thúc thời hạn bảo hộ bằng độc quyền sáng chế càng gẩn hơn. Điều này phản ánh sự cần bằng về chính sách giữa lợi ích thương mại của chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế với lới ích của công chúng trong việc làm tăng số "bằng độc quyền sáng chế không hoạt động" có thể được sử dụng tự do trong khu vực công cộng. Chính sách này dường như đạt được mục tiêu mong muốn ở nhiều nước.
4.2 Chi phí dịch
Một loại chi phí khóc về bằng độc quyền sáng chế có liên quan đến việc dịch đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế. Đây là trường hợp của Cơ quan bằng độc quyền sáng chế châu Âu (EPO), nơi mà nỗ lực giảm bớt yêu cầu dịch (hiện tại ước tính ở mức 25 phần trăm tổng chi phí liên quan đến bằng độc quyền sáng chế) thông qua việc đưa vào áp dụng Bằng độc quyền sáng chế Cộng đồng đã gây ra nhiều tranh cãi. Ví dụ, ngày 5 tháng 7 năm 2000 Uỷ ban châu Âu đã đề xuất cho ra đời một Bằng độc quyền sáng chế Cộng đồng để các nhà sáng chế được lựa chọn khả năng nhận một bằng độc quyền sáng chế duy nhất và có hiệu lực pháp lý trong toàn Liên minh châu Âu. Một trong các mục tiêu chính của đề xuất này là "giảm chi phí của hoạt động liên quan đến cấp bằng độc quyền sáng chế đối với sáng chế ở châu Âu", đặc biệt là thông qua việc giâm bót các yêu cầu dịch. Chi phí dịch cũng đóng một vai trò quan trọng đối với việc yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế ở nước ngoài; vấn đề này sẽ được thảo luận tiếp trong nội dung này ở phần nói về Hiệp ước Hợp tác bằng độc quyền sáng chế (PCT).
Nhìn sơ qua tổng chi phí về bằng độc quyền sáng chế ở ba cơ quan bằng độc quyền sáng chế lớn nhất thì thấy được lý do vì sao những cá nhân và SME đôi khi cho rằng chi phí liên quan đến việc đạt được bằng độc quyền sáng chế là quá cao. vấn đề này đã được nêu ra trong những diễn đàn quốc tế khác nhau, trong đó có diễn đàn của Uỷ ban Tư vấn Công nghiệp (IAC) của WIPO vào tháng 5 năm 2000, khi IAC đã thúc giục "các nước Thành viên của WIPO thông qua một Chương trình hành động để tìm ra một cách tiếp cận toàn diện hơn nhằm giảm bớt chi phí trong việc đạt được và duy trì hiệu lực bảo hộ SHTT ở một loạt nước".
Việc đưa vào vận hành một hệ thống cho phép bất kỳ người nộp đơn nào cũng có thể nộp đơn miễn phí (như ở Vương quốc Anh ) là một giải pháp. Một giải pháp khác là một hệ thống về lệ phí ưu đãi dành cho các doanh nghiệp nhỏ ở một số nước, ví dụ ở Ca-na-đa, Phi-líp-pin và Hoa Kỳ, cũng như hệ thống lệ phí thấp hơn dành cho người nộp đơn từ một số nước nhất định như trong hệ thống PCT Các giải pháp này cũng là những sáng kiến giúp làm cần bằng lại sự không đồng đều trong hệ thống, bằng cách tạo ra một sân chơi có nhiều cấp độ. Không có lý do gì khiến cho CQSHTT không thể giảm bớt lệ phí đối với những tổ chức phi lợi nhuận, chẳng hạn như trường đại học và trung tâm nghiên cứu công. Làm như vậy là giảm bót một cách có hiệu quả rào cản đối với việc tham gia hệ thống bằng độc quyền sáng chế.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê