1.Tổng quan các rào cản kĩ thuật đối với thương mại

Trong WTO, các rào cản kĩ thuật đối với thương mại được quy định trong Hiệp định về các rào cản kĩ thuật đối với thương mại (sau đây gọi là ‘Hiệp định TBT’). Hiệp định TBT ra đời trong khuôn khổ của WTO, nhằm: (i) Ghi nhận sự cần thiết của các rào cản kĩ thuật đối với thương mại; đồng thời (ii) Kiểm soát những rào cản này để đảm bảo rằng các thành viên sử dụng chúng một cách phù hợp và hợp pháp, các rào cản này không được sử dụng như công cụ bảo hộ đơn thuần.230 Hiệp định TBT thừa nhận sự đóng góp quan trọng mà các tiêu chuẩn quốc tế và các hệ thống đánh giá hợp chuẩn có thể đem lại bằng việc cải thiện hiệu quả sản xuất và tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Tuy nhiên, Hiệp định TBT muốn đảm bảo rằng các quy chuẩn kĩ thuật và tiêu chuẩn, bao gồm các yêu cầu về đóng gói, đánh dấu và ghi nhãn, cũng như các thủ tục đánh giá hợp chuẩn, hợp quy không gây ra trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế. Hiệp định TBT thừa nhận rằng bất cứ thành viên nào cũng có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hoá xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ của con người, động vật hoặc thực vật, bảo vệ môi trường, hoặc để ngăn ngừa các hành vi lừa đảo, ở mức độ mà các thành viên này xét thấy là thích hợp, với điều kiện các biện pháp này không được áp dụng theo cách sẽ gây ra sự phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc vô căn cứ giữa các thành viên có điều kiện tương tự nhau hoặc nhằm hạn chế một cách trá hình đối với thương mại quốc tế 

2.Phạm vi và định nghĩa 

Hiệp định TBT phân biệt ba loại rào cản kĩ thuật đối với thương mại như sau:

- Quy chuẩn kĩ thuật: là tài liệu đặt ra quy định về các đặc tính của sản phẩm hoặc các phương pháp sản xuất, chế biến liên quan, bao gồm các quy định hành chính bắt buộc phải tuân thủ.

- Tiêu chuẩn: là tài liệu được phê duyệt bởi tổ chức có uy tín, quy định các quy tắc, hướng dẫn hoặc đặc tính được áp dụng chung và lặp đi lặp lại đối với sản phẩm hoặc các phương pháp sản xuất và chế biến liên quan, mà việc tuân thủ chúng là không bắt buộc.

- Thủ tục đánh giá sự phù hợp: bất kì thủ tục nào được sử dụng, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, để xác định sự tuân thủ các yêu cầu liên quan của quy chuẩn kĩ thuật hoặc tiêu chuẩn. Các quy chuẩn kĩ thuật được đề cập trong phần nội dung chính của Hiệp định, và các quy định được đặt ra để đảm bảo rằng chúng không trở thành những trở ngại không cần thiết đối với thương mại. Các quy định của Hiệp định TBT áp dụng đối với các quy chuẩn kĩ thuật được ban hành bởi chính quyền trung ương và địa phương, cũng như bởi các cơ quan phi chính phủ. Các thành viên WTO chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc đảm bảo thực thi tất cả các quy định của Hiệp định TBT liên quan đến quy chuẩn kĩ thuật. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn được đề cập riêng tại ‘Bộ luật về ứng xử tốt’ (‘Code of Good Practice’), là một trong các phụ lục của Hiệp định (Phụ lục 3). Hầu hết các nguyên tắc của Hiệp định áp dụng đối với quy chuẩn kĩ thuật, cũng được áp dụng với tiêu chuẩn thông qua ‘Bộ luật’ này. ‘Bộ luật’ để ngỏ để các cơ quan tiêu chuẩn hoá của chính quyền trung ương, địa phương hoặc phi chính phủ (ở cấp quốc gia), cũng như các cơ quan tiêu chuẩn hoá chính phủ hoặc phi chính phủ ở cấp khu vực chấp thuận áp dụng. 

3. Những khía cạnh chính của Hiệp định TBT

Hiệp định TBT quy định các nguyên tắc mà thành viên phải tuân thủ như sau: (a) Không phân biệt đối xử Các thành viên phải đảm bảo rằng, liên quan đến các quy chuẩn kĩ thuật, các sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kì thành viên nào cũng phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với các sản phẩm tương tự có nguồn gốc nội địa hoặc có nguồn gốc từ bất kì nước nào khác (khoản 1 Điều 2). (b) Không gây ra trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế Các thành viên phải đảm bảo rằng các quy chuẩn kĩ thuật không được chuẩn bị, thông qua hoặc áp dụng với mục đích hoặc hiệu ứng tạo ra các trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế. Với mục đích như vậy, các quy chuẩn kĩ thuật không được có tính chất hạn chế thương mại cao hơn mức cần thiết để đạt được một mục tiêu chính đáng, có tính đến những rủi ro mà sự không tuân thủ quy chuẩn có thể gây ra. Mục tiêu chính đáng có thể là yêu cầu về an ninh quốc gia, phòng ngừa hành vi lừa đảo, bảo vệ sức khoẻ hoặc sự an toàn của con người, động vật hoặc thực vật, hoặc bảo vệ môi trường. Khi đánh giá rủi ro, các yếu tố có liên quan cần xem xét, bao gồm (nhưng không giới hạn): các thông tin khoa học và kĩ thuật sẵn có liên quan đến công nghệ chế biến hoặc mục đích sử dụng cuối cùng của sản phẩm (khoản 2 Điều 2). (c) Minh bạch Trong trường hợp không có tiêu chuẩn quốc tế liên quan, hoặc quy chuẩn kĩ thuật được đề xuất có nội dung kĩ thuật không phù hợp với nội dung kĩ thuật của tiêu chuẩn quốc tế có liên quan, và nếu quy chuẩn kĩ thuật này có thể gây tác động đáng kể đối với thương mại cho các thành viên khác; hoặc trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến an toàn, sức khoẻ, bảo vệ môi trường hoặc liên quan đến an ninh quốc gia phát sinh hoặc có nguy cơ phát sinh đối với thành viên, thì thành viên đó phải thông báo cho các thành viên khác; và khi có yêu cầu, thì phải cung cấp cho các thành viên khác bản sao của quy chuẩn kĩ thuật được đề xuất áp dụng; cho phép các thành viên khác đóng góp ý kiến bằng văn bản (khoản 9 Điều 2; khoản 10 Điều 2; khoản 6 Điều 5; và khoản 7 Điều 5). 

4.Dệt may 

Từ năm 1995, Hiệp định về hàng dệt may của WTO (sau đây gọi là ‘ATC’) đã thay thế Hiệp định đa sợi (‘MFA’). Tới năm 2005, lĩnh vực dệt may được đưa trọn vẹn vào sự điều chỉnh theo các quy tắc điều chỉnh thương mại hàng hóa thông thường của GATT. Đặc biệt, hạn ngạch sẽ phải bị loại bỏ và nước nhập khẩu không được phân biệt đối xử giữa các nhà xuất khẩu nữa. Và ATC đã hết hiệu lực: đây là Hiệp định WTO duy nhất có điều khoản tự hủy. 234 Tóm lại, từ năm 2005, hàng dệt may sẽ chịu sự điều chỉnh của GATT và các hiệp định liên quan như tất cả các hàng hoá khác. 

5. Chống bán phá giá, trợ cấp, các biện pháp đối kháng và tự vệ

Ràng buộc thuế quan và áp dụng chúng bình đẳng với tất cả các đối tác thương mại (MFN) là vấn đề then chốt trong lưu thông của thương mại hàng hoá. Những hiệp định của WTO ủng hộ những nguyên tắc này nhưng đồng thời cũng cho phép các ngoại lệ trong 3 trường hợp sau: (A) Hành vi chống bán phá giá (bán với giá thấp không công bằng); (B) Trợ cấp và thuế đối kháng đặc biệt để bù đắp trợ cấp; và (C) Các biện pháp khẩn cấp để hạn chế nhập khẩu tạm thời, nhằm mục đích ‘bảo hộ’ những ngành kinh tế nội địa. Phần này sẽ đề cập cụ thể đến từng nội dung riêng biệt. 

1. Khái quát

Các biện pháp chống bán phá giá (‘AD’) được quy định tại Điều VI GATT và ADA.

2. Phạm vi điều chỉnh và định nghĩa

 Theo ADA, tại khoản 1 Điều 2: Một sản phẩm được coi là bán phá giá, nghĩa là được đưa vào thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường, nếu giá xuất khẩu của một sản phẩm xuất khẩu từ một nước này sang nước khác thấp hơn giá có thể so sánh được, trong điều kiện thương mại thông thường, của sản phẩm tương tự tại nước xuất khẩu. Vì vậy, bán phá giá sẽ xuất hiện khi sản phẩm được xuất khẩu với giá thấp hơn ‘giá trị thông thường’ (‘NV’) của sản phẩm đó. Theo ADA, ‘NV’ là: (i) Giá ở thị trường nội địa, khi sản phẩm được bán với giá cao hơn chi phí sản xuất; (ii) Giá của sản phẩm khi được bán ở mức giá cao hơn chi phí tại thị trường nước thứ ba; (iii) ‘Giá trị thông thường áp đặt’ (‘Constructed Nomal Value’) được tính là tổng chi phí cho việc sản xuất sản phẩm đó cộng với một khoản hợp lí các chi phí bán hàng, chi phí quản lí, chi phí chung và lợi nhuận.

3. Những nội dung chủ yếu của ADA

 Vấn đề được quan tâm ở đây là: thiệt hại của việc hàng hoá nhập khẩu được bán với giá thấp ‘không công bằng’ (bán phá giá) cần được xử lí bằng biện pháp khắc phục thương mại. Đó là biện pháp chống bán phá giá (AD). Biện pháp khắc phục này thường là áp thuế nhập khẩu bổ sung, hoặc đàm phán về giá để bù đắp biên độ phá giá. Nếu biên độ bán phá giá còn tồn tại, thì thuế AD sẽ vẫn được duy trì. (a) Tiền đề vụ kiện chống bán phá giá Theo ADA, sau khi thực hiện điều tra chặt chẽ theo đơn kiện của một ngành kinh tế bị ảnh hưởng, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu phải chứng minh ba điều kiện sau: - Hàng nhập khẩu được bán phá giá (với biên độ phá giá không thấp hơn 2%); - Có thiệt hại đáng kể, đe dọa gây thiệt hại đáng kể đối với ngành kinh tế nội địa, hoặc gây chậm trễ đáng kể cho việc thành lập ngành kinh tế nội địa; - Có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại đối với ngành kinh tế nội địa. (b) Xác định thiệt hại Việc xác định thiệt hại được dựa trên những chứng cứ xác thực và thông qua điều tra khách quan về cả hai khía cạnh: (i) Khối lượng hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá và tác động của hàng hoá được bán phá giá đến giá trên thị trường nội địa của các sản phẩm tương tự; và (ii) Hậu quả của việc nhập khẩu này đối với các nhà sản xuất các sản phẩm trên ở nội địa (khoản 1 Điều 3). Đối với khối lượng hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá, cơ quan điều tra phải xem xét: liệu hàng nhập khẩu được bán phá giá này có tăng lên đáng kể hay không? và việc tăng lên này là tăng tuyệt đối hay tương đối so với mức sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng tại nước nhập khẩu? Về tác động của hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá đến giá cả, cơ quan điều tra phải xem xét: Liệu giá của hàng nhập khẩu được bán phá giá có giảm giá đáng kể so với giá của sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu hay không? Hoặc liệu hàng nhập khẩu đó có tác động khác là làm giảm giá đáng kể hoặc ngăn không cho giá tăng lên đáng kể hay không? Điều đáng lẽ xảy ra nếu hàng nhập khẩu không được bán phá giá là gì? Không một hoặc một số yếu tố nào trong số tất cả các yếu tố trên đủ để có thể đưa ra các kết luận mang tính quyết định (khoản 2 Điều 3). Việc xem xét tác động của hàng nhập khẩu được bán phá giá đối với ngành kinh tế nội địa có liên quan phải bao gồm việc đánh giá tất cả các yếu tố và chỉ số có ảnh hưởng đến tình trạng của ngành kinh tế, trong đó bao gồm mức suy giảm thực tế và tiềm ẩn của doanh số, lợi nhuận, sản lượng, thị phần, năng suất, tỉ lệ lãi đối với đầu tư, tỉ lệ năng lực được sử dụng; các yếu tố tác động đến giá nội địa; độ lớn của biên độ bán phá giá; các tác động tiêu cực có trên thực tế hoặc tiềm ẩn đối với lưu thông tiền mặt, lượng lưu kho, công ăn việc làm, tiền lương, tăng trưởng, khả năng huy động vốn hoặc nguồn đầu tư (khoản 4 Điều 3). Cần phải chứng minh rằng: thông qua những tác động của việc bán phá giá, hàng nhập khẩu được bán phá giá đã gây ra thiệt hại theo cách hiểu của Hiệp định này. Việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được bán phá giá với thiệt hại cho ngành kinh tế nội địa phải căn cứ vào việc xem xét tất cả các chứng cứ liên quan trước các cơ quan có thẩm quyền (khoản 5 Điều 3). (c) Quyền khởi xướng vụ kiện chống bán phá giá Cuộc điều tra nhằm xác định sự tồn tại, mức độ và ảnh hưởng của bất kì hành vi được coi là bán phá giá nào đều phải được bắt đầu khi có đơn yêu cầu bằng văn bản của ngành kinh tế nội địa hoặc của người đại diện ngành kinh tế nội địa (khoản 1 Điều 5). Đơn yêu cầu phải đưa ra những chứng cứ của (i) Việc bán phá giá; (ii) Thiệt hại; và (iii) Mối quan hệ nhân quả giữa hàng hoá nhập khẩu bán phá giá với thiệt hại đang nghi ngờ xảy ra (khoản 2 Điều 5). Đơn yêu cầu sẽ được coi là yêu cầu của ngành kinh tế nội địa hoặc đại diện ngành kinh tế nội địa, nếu nó được sự ủng hộ của những nhà sản xuất nội địa chiếm tỉ lệ hơn 50% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được sản xuất bởi các nhà sản xuất nội địa bày tỏ ý kiến tán thành hoặc phản đối đơn yêu cầu. Tuy nhiên, việc điều tra cũng sẽ không được tiến hành, nếu nhà sản xuất nội địa bày tỏ sự ủng hộ đơn yêu cầu điều tra chiếm ít hơn 25% so với tổng sản lượng hàng hoá tương tự được sản xuất bởi ngành kinh tế nội địa (khoản 4 Điều 5). Trong hầu hết các trường hợp, vụ kiện chống bán phá giá được ngành kinh tế nội địa khởi xướng. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, nếu cơ quan có thẩm quyền quyết định bắt đầu điều tra mà không nhận được đơn yêu cầu bằng văn bản hoặc nhân danh ngành kinh tế nội địa yêu cầu bắt đầu điều tra vụ việc đó, thì họ sẽ tiến hành điều tra chỉ khi có đủ các bằng chứng về việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả để bắt đầu quá trình điều tra. (d) Tiến hành vụ kiện chống bán phá giá và những vấn đề có liên quan Thông thường, sau khi ngành kinh tế nội địa nộp đơn yêu cầu bằng văn bản yêu cầu xem xét hành vi bán phá giá với chứng cứ ban đầu, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định tiến hành hoặc từ chối điều tra. ADA quy định trình tự cụ thể để tiến hành vụ kiện chống bán phá giá; cách thức tiến hành điều tra và các điều kiện cần phải hoàn thành để đảm bảo rằng tất cả các bên có quyền lợi liên quan đều có đầy đủ cơ hội đưa ra chứng cứ; áp dụng các biện pháp tạm thời (Điều 7); giá tự nguyện do bất kì nhà xuất khẩu nào cam kết nhằm điều chỉnh giá của mình, hoặc đình chỉ hành động bán phá giá vào khu vực đang điều tra để cơ quan có thẩm quyền tin rằng thiệt hại do việc bán phá giá gây ra đã được loại bỏ (Điều 8); quyết định áp thuế và thu thuế chống bán phá giá (Điều 9); thời hạn rà soát thuế chống bán phá giá và cam kết giá (Điều 11) 

Luật Minh Khuê (sưu  tầm và biên tập)