Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác Leenin.
Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, sự phát triển theo đó nguồn gốc của sự phát triển chính là mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng.
1. Ý nghĩa phương pháp của quy luật thống nhát và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Tất cả mọi sự vật hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập từ đó tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình. Sự thống nhất và đáu tranh của các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới.
Phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghĩa như sau:
- Mâu thuẫn chính là nguồn gốc, là động lực của sự vận động và phát triển của sự vật, là khách quan trong bản thân sự vật nên cần phải phát hiện ra được những mâu thuẫn của sự vật bằng cách phân tích những sự vật đó để tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mối liên hệ, sự tác động lẫn nhau giữa chúng.
- Cần phải phân tích cụ thể một mẫu thuẫn cụ thể, phải biết cách phân loại mâu thuẫn cũng như biết cách tìm để giải quyết được những mâu thuẫn đó.
- Nắm vững được các nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn phù hợp đó. Không được điều hòa mâu thuẫn mà cần phải tìm ra được phương thức, phương tiện cũng như lực lượng để giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín muồi.
2. Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt vào đời sống hiện nay
- Các mặt đối lập của mâu thuẫn vừa thống nhất và vừa đấu tranh với nhau
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập chính là sự nương tựa, sự ràng buộc quy định lẫn nhau và làm tiền đề cho nhau để cùng tồn tại; nếu không có sự thống nhất của các mặt đối lập thì sẽ không tạo ra sự vật.
+ Có thể hiểu một cách đơn giản thì thống nhất chính là sự đồng nhất, sự phù hợp ngang nhau của hai mặt đối lập đây là trạng thái cân bằng của mâu thuẫn.
+ Thống nhất giữa các mặt đối lập chỉ là tạm thời là tương đối có nghĩa là nó chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, đó là trạng thái đứng im, ổn định tương đối của sự vật.
+ Việc đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp được diễn ra từ tháp đến cao và bao gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn sẽ có những đặc điểm riêng.
- Sự đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập chính là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển
Việc đấu tranh của các mặt đối lập sẽ gây ra những biến đổi các mặt đối lập khi cuộc đấu tranh của các mặt đối lập trở nên quyết liệt. Sự chuyển hóa của các mặt đối lập chính là các mau thuẫn được giải quyết thì sự vật cũ sẽ bị mất và sự vật mới xuất hiện. Các mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau với ba hình thức sau đây:
+ Các mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau mặt đối lập này thành mặt đối lập kia và ngược lại nhưng trình cao hơn về phương diện vật chất của sự vật.
+ Cả hai mặt đối lập đều mất đi và chuyển hóa thành một mặt đối lập mới.
+ Các mặt đối lập thâm nhập vào nhau và cải biến lẫn nhau
Tóm lại, Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan phổ biến, nó tồn tại trong tất cả sự vật, hiện tượng, ở mỗi giai đoạn tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng. Nhưng ở các sự vật, hiện tượng khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi sự vật hiện tượng ở mỗi lĩnh vực, mỗi yếu tố cấu thành một sự vật sẽ có những mâu thuẫn khác nhau. Sự thống nhất và đáu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển dẫn đến sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn. Do đó, trong hoạt động thực tiễn phát triển từng mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức đưuọc bản chất, khuynh hướng vận động phát triển của sự vật, hiện tượng để từ đó tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực hiện để giải quyết mâu thuẫn. Vì vậy trong đời sống xã hội, mọi hành vi cần được coi là chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.
3. Ví dụ về sự thống nhất giữa các mặt đối lập
Trong mỗi mâu thuẫn thường có hai mặt đối lập liên hệ gắn bó với nhau tạo tiền đề cho nhau cùng tồn tại, triết học gọi đó là sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
Ví dụ như trong hoạt động kinh tế thì sản xuất và tiêu dùng phát triển theo những chiều hướng trái ngược nhau với nhau. Sản xuất chính là việc tạo ra của cải vật chất, sản phẩm để có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Còn tiêu dùng là mục đích cuối cùng của việc sản xuất, tất cả những sản phẩm được sản xuất đều cần có người tiêu dùng.
Sản xuất là việc tạo ra sản phẩm và là đối tượng có thể cung cấp cho việc tiêu dùng. Nếu như không có quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm tiêu dùng thì sẽ không thể có tiêu dùng.
Sản xuất quy định phương thức tiêu dùng, tạo ra cho đối tượng cho tiêu dùng, đây không phải là đối tượng nói chung mà là đối tượng nhất định do bản thân sản xuất làm môi giới cho người tiêu dùng.
Do đó sản xuất không chỉ là đối tượng của người tiêu dùng mà nó còn quyết định về phương thức tiêu dùng. Sản xuất cung cấp các sản phẩm cho người tiêu dùng và tạo ra nhu cầu cho người tiêu dùng. Điều ày có nghĩa là chỉ khi sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó thì mới tạo ra nhu cầu tiêu dùng đối với sản phảm đó.
Do vậy có thể thấy được rằng sản xuất và tiêu dùng là sự thống nhất của hai mặt đối lập, chúng có tính chất tương đồng và có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau từ đó dạo điều kiện cho nhau cùng chuyển hóa, cùng phát triển.
Trên đây là nội dung bài viết mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc về vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vào thực tiễn mong rằng sẽ giải đáp được những băn khoăn của quý độc giả.