Tôi làm việc cho 1 công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài. Loại hợp đồng lao động: không xác định thời hạn.Thời gian thử việc: từ ngày 01/6/2011 - 30/6/2011.Ngày 01/7/2011 bắt đầu ký HĐ Tháng 9/2012 công ty bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho nhân viên. Ngày 04/8/2016, công ty ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao đồng với tôi, hiệu lực kể từ ngày 04/8/2016. Lý do: Công ty bị thua lỗ nhiều năm liên tục, công ty muốn thu hẹp quy mô và giảm lao động.Trong quyết định nêu là sẽ chi trả cho tôi 02 tháng tiền lương kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

Tôi xin có câu hỏi và xin được Qúy công ty tư vấn như sau:Trường hợp công ty chấm dứt hợp đồng lao động với tôi như thế này thì công ty phải bồi thường cho tôi như thế nào?Tôi có thể tính toán mức đề nghị bồi thường cụ thể như thế nào ạ! Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ của Qúy công ty.Tôi kính chúc Qúy công ty nhiều sức khỏe và thành đạt! Trân trọng

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho chúng tôi. Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn Luật lao động của Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Nội dung trả lời

Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật lao động 2012

- Nghị định 05/2015/NĐ-CPQuy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số nội dungcủa Bộ luật Lao động

II. Nội dung

Khoản 1 Điều 38 BLLĐ quy định về trường hợp NSD lao động được đơn phương chấm dứt HĐLĐ như sau:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này."

Khoản 2 Điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 1 Điều 38 như sau:

"2. Lý do bất khả kháng khác thuộc mộttrong các trường hợp sau đây:

a) Do địch họa, dịch bệnh;

b) Di dời hoặc thu hẹp địa điểm sảnxuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền."

Như vậy, trong trường hợp này công ty bạn không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với lí do “thu hẹp sản xuất”. Công ty chỉ được đơn phương chấm dứt với lí do “thu hẹp sản xuất” theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi này, công ty bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 BLLĐ 

Khi đó, Công ty bạn có nghĩa vụ như sau:

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Theo đó, căn cứ vào tình hình cụ thể mà mức bồi thường của công ty với bạn là khác nhau. Nếu như bạn không muốn làm ở đây nữa thì theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 ở trên thì công ty sẽ phải trả tiền lương, BHXH, BHYT trong những ngày mà bạn không được làm việc(nếu có) cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương và trả trợ cấp thôi việc cho bạn. Về trợ cấp thôi việc được tính như sau:

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."(BLLĐ)

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ trợ cấp thôi việc làm cho người lao động. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!