1. Dàn ý vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài Bảo kính cảnh giới

I. Mở bài

- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi và bài thơ Bảo kính cảnh giới: Nguyễn Trãi là người văn võ toàn tài, có tâm trong sáng. Bảo kính cảnh giới là bài thơ số 43 trong chùm “bảo kính cảnh giới” của Quốc âm thi tập.

- Khái quát vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi qua bài thơ: Yêu thiên nhiên tha thiết, gắn bó với cuộc sống của người dân quê, yêu nước thương dân luôn suy tư về hạnh phúc của nhân dân.

II. Thân bài

1. Nguyễn Trãi - một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết

- Bức tranh thiên nhiên Bảo kính cảnh giới được Nguyễn Trãi vẽ lên rất sinh động:

+ Cảnh vật gần gũi, quen thuộc của mùa hè: Lá hòe, hoa thạch lựu, hoa sen.

+ Cảnh vật rực rỡ, nổi bật, sinh động: Thông qua việc dùng những gam màu nóng để miêu tả cảnh vật lục, đỏ, hồng.

+ Cảnh vật căng tràn sức sống, sự sinh sôi cuộn trào toát ra từ trong lòng cảnh vật: Sử dụng các động từ mạnh “phun”, đùn đùn” để diễn tả những trạng thái, sức sống tràn trề của cảnh vật.

+ Cảnh vật tinh tế, tao nhã với hương thơm: Mùi hương nồng nàn của hoa sen cuối mùa.

=> Bức tranh thiên nhiên cuối mùa hạ nhưng không tàn úa, héo nát mà ngược lại vô cùng rực rỡ, sinh động, giàu sức sống.

- Tâm hồn Nguyễn Trãi:

+ Phải vô cùng yêu và say mê cảnh sắc thiên nhiên nên Nguyễn Trãi mới có những phát hiện tinh tế, tuyệt vời đến thế.

+ Nguyễn Trãi có tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, nhạy cảm.

2. Nguyễn Trãi - một tâm hồn luôn tha thiết với cuộc sống làng quê

- Bức tranh cuộc sống sôi động, phong phú:

+ Hình ảnh cuộc sống quen thuộc: chợ cá, làng ngư phủ, lầu tịch dương.

+ Âm thanh cuộc sống: Tiếng lao xao của chợ cá, tiếng ve kêu dắng dỏi. Đó là những âm thanh của một cuộc sống nhộn nhịp, vui tươi, sôi nổi, tấp nập.

+ Cách sử dụng từ láy tượng thanh “lao xao”, “dắng dỏi” kết hợp với phép đảo trật tự cú pháp đã nhấn mạnh âm thanh sôi động của cuộc sống.

- Tâm hồn Nguyễn Trãi:

+ Nguyễn Trãi yêu cảnh sắc của làng quê, yêu cuộc sống nơi thôn quê.

+ Ông quan tâm đến cuộc sống của người dân quê lam lũ thì mới có thể để tâm, lắng nghe được những âm thanh đó.

3. Nguyễn Trãi - một tâm hồn nặng lòng với dân với nước

- Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi thể hiện triết lí sống “nhàn”:

+ Rồi: rỗi rãi, thảnh thơi.

+ “Hóng mát thuở ngày trường”: hoạt động thư thái, tự do tự tại.

=> Tâm hồn thảnh thơ, nhàn tản, vô lo vô nghĩ.

- Kết thúc bài thơ, Nguyễn Trãi thể hiện tâm sự của mình:

+ Điển tích điển cố “Ngu cầm”: Gợi về triều đại vua Nghiêu Thuấn - thời kì nhân dân được hưởng ấm no, thái bình. Niềm vui sướng, hạnh phúc của Nguyễn Trãi khi được sống ở quê hương với những người dân thôn dã. Thể hiện ước muốn có được cuộc sống no đủ, hạnh phúc trên quê hương ông. Đó là khát khao của một người con luôn suy tư, trăn trở, một lòng hướng về quê hương.

+ Ước mơ của Nguyễn Trãi: “Dân giàu đủ khắp đòi phương”: Không chỉ khát khao về cuộc sống hạnh phúc, no đủ trên quê hương ông, Nguyễn Trãi còn mong muốn cuộc sống ấy có ở khắp nơi trên cả nước. Đó là tấm lòng vì nước thương dân, lo nghĩ cho vận mệnh dân tộc.

=> Dù ở những phút thanh nhàn hiếm có của cuộc đời nhưng Nguyễn Trãi vẫn nặng lòng với dân với nước, nhàn thân chứ không nhàn tâm.

4. Nghệ thuật

- Sử dụng lớp từ Hán Việt kết hợp với thuần Việt.

- Các biện pháp nghệ thuật: sử dụng từ láy, liệt kê, phép đảo trật tự cú pháp.

- Sử dụng điển tích điển cố.

- Cách tả tự nhiên, kết hợp giữa gợi và chi tiết.

III. Kết bài

- Khái quát những vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ.

+ Liên hệ: So sánh với những thi nhân cùng đồng điệu tâm hồn với Nguyễn Trãi tiêu biểu nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ “Nhàn”.

 

2. Bài Văn Mẫu Vẻ Đẹp Tâm Hồn Nguyễn Trãi Qua Bảo Kính Cảnh Giới

2.1. Bài mẫu số 1

Nguyễn Trãi là một nhà thơ kiệt xuất của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Ông để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị lớn. Nếu như Bình Ngô đại cáo của ông mang đầy nhiệt huyết, lòng tự tôn dân tộc thì bài thơ Cảnh ngày hè là một bức tranh về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi.

Bài thơ bắt đầu bằng hoàn cảnh hưởng nhàn bất đắc dĩ:

Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Trước hết, đọc bài thơ ta cảm nhận được Nguyễn Trãi là người yêu thiên nhiên tha thiết qua việc miêu tả bức tranh cảnh ngày hè. "Rồi" gợi lên khoảng thời gian rảnh rỗi, tâm hồn con người như được thanh thản. "Hóng mát" đó là một ngày với khí trời thoáng mát, trong lành. Có thể thấy, đây là một khoảng thời gian hiếm hoi trong cuộc đời của một người suốt đời lo cho vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Hoàn cảnh tác giả sáng tác bài thơ, đó là khoảng thời gian ông đang ở ẩn Côn Sơn. Vậy nên, đây thật là một hoàn cảnh lý tưởng về cả mặt khách quan và chủ quan để Ức Trai có thể thả hồn mình say sưa đắm chìm với vẻ đẹp tự nhiên: 

                   "Hòe lục đùn đùn tán rợp trương.

                   Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.

                   Hồng liên trì đã tịn mùi hương."

Bức tranh thiên nhiên ngày hè với đủ những sắc màu rực rỡ. Đầu tiên, đó là "hòe lục" đây là loại cây thân gỗ hoa màu vàng nở vào mùa hè. Đây là màu sắc rất đặc trưng cho mùa hè ở làng quê. Động từ "đùn đùn" thể hiện một nguồn sống mãnh liệt của những cây hòe rợp tán lá xanh, những tán này chồng lên tán kia che kín mặt đất. Qua đó, thể hiện sức sống mãnh liệt của tự nhiên. Cảnh sắc thiên nhiên còn được tô điểm với hoa lựu quen thuộc với màu đỏ rực. "Thạch lựu" trước hiên nhà thi nhau "phun thức đỏ". Dường như những bông hoa đang bung nở tựa như một cơn mưa hoa rơi xuống đầy sân nhà. Bức tranh cảnh ngày hè không chỉ có "hòe", "thạch lựu" mà còn nổi bật với hình ảnh "hồng liên trì". Phía vườn ao, những bông hoa sen đã bung nở, đang khoe sắc hương vào cuối hè. Có lẽ, phải là người có tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết như Nguyễn Trãi thì mới có thể vẽ nên một khung cảnh ngày hè thật tươi đẹp như vậy.

Không chỉ nhìn bằng mắt mà Nguyễn Trãi còn trải lòng lắng nghe những thanh âm muôn vẻ của thiên nhiên:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Bức tranh ngày hè còn được thi nhân khéo léo gợi lên qua những âm thanh quen thuộc của cuộc sống con người "Lao xao chợ cá làng ngư phủ/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương". Âm thanh từ xa vọng lại đó là tiếng "lao xao" của những người làm nghề chài lưới. Việc lắng tai nghe âm thanh của con người cho thấy Nguyễn Trãi có tấm lòng luôn hướng đến người dân. Dù đã lui về ở ẩn, nhưng lòng người thi sĩ ấy vẫn quan tâm đến cuộc sống bình yên của nhân dân lao động. Hòa trong sự rộn rã của con người đó là âm thanh của tiếng ve ngân vang khắp không gian. Tất cả những âm thanh đó gợi tả một mùa hè thật rộn ràng, vui tươi. Bằng việc sử dụng những động từ mạnh kết hợp với tính từ giàu sắc thái, tác giả đã gợi lên bức tranh vạn vật thiên nhiên mùa hè tràn trề sức sống.

Thiên nhiên đã đem lại một bài học lớn. Lay thức khát vọng mãnh liệt muốn trở lại với đời của nhà thơ. Thiên nhiên ấy đã thổi bùng khát vọng của người anh hùng đầu bạc mà vẫn vẹn tấm lòng son:

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương”

Không chỉ yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, Nguyễn Trãi còn là người có tấm lòng yêu nước, thương dân. Hai câu thơ cuối là những tâm sự của tác giả về cuộc đời "Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giàu đủ khắp đòi phương". Câu thơ sáu tiếng, ngắt nhịp 3/3 thể hiện những dồn nén cảm xúc của nhà thơ. Ông mong muốn có được cây đàn của vua Thuấn, để gảy vang lên khúc Nam Phong. Qua đây, thể hiện ước mong của tác giả về một đất nước yên bình. Ở nơi đó, nhân dân được hưởng ấm no, hạnh phúc trọn vẹn nhất.

Bằng việc sử dụng hàng loạt các từ láy: "đùn đùn", "lao xao", "dắng dỏi" kết hợp với ngôn ngữ thơ giản dị, Nguyễn Trãi đã miêu tả bức tranh ngày hè với những hình ảnh và âm thanh đặc trưng. Qua bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được tình yêu thiên nhiên của mà còn cả tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân của Nguyễn Trãi.

Bài thơ "Bảo kính cảnh giới", bài 43 đúng là một bài thơ đặc sắc gợi được cả cảnh và tình của thi nhân. Đọc bài thơ, ta thấy một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống đắm say của Nguyễn Trãi. Và bài thơ sẽ còn sống mãi trong lòng độc giả.

 

2.2. Bài mẫu số 2

Nguyễn Trãi là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Qua hệ thống tác phẩm phong phú người đọc đã phần nào cảm nhận được vẻ đẹp trong tâm hồn nhân cách của Nguyễn Trãi. Vẻ đẹp tâm hồn đó được thể hiện trong nhiều bài thơ, và ta không thể không nhắc đến bài thơ "Bảo kính cảnh giới". Tác phẩm đã cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống sâu sắc và hơn hết là tấm lòng lo cho dân, cho nước ngay cả trong lúc rảnh rỗi cũng không thôi cháy bỏng.

Trước hết, Nguyễn Trãi là một nhà thơ có tình yêu thiên nhiên tha thiết. Bức tranh thiên nhiên Bảo kính cảnh giới được ông khắc họa thật sinh động. Câu thơ mở đầu đọc lên nghe thật êm đềm gợi một cuộc sống yên bình, thư thái:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Từ “rồi” ở đây có nghĩa là rảnh rỗi, nhàn hạ. Rảnh rỗi trong suốt “ngày trường” có nghĩa là ngày dài, để ngồi “hóng mát” - một hoạt động an nhàn, tĩnh tại, thư thái. Từ đó ta thấy được tâm thế an nhàn, thảnh thơi của tác giả. Nguyễn Trãi đã một đời bận rộn, tận tâm vì đất nước, chính lúc này là những giây phút rảnh rỗi hiếm hoi của cuộc đời.

Không chỉ vậy, tình yêu thiên nhiên còn thể hiện ở cách cảm nhận thiên nhiên, cuộc sống hết sức tinh tế. Năm câu thơ tiếp, Nguyễn Trãi hiện lên là một người có tấm lòng tha thiết yêu thiên, cuộc sống :

“Hoè lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Lao xao chợ cá làng Ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

 Tác giả đã đón nhận Bảo kính cảnh giới trong tư thế ung dung, thoải mái khi ở ẩn, lúc nhà vua không còn trọng dụng tới nữa. Bức tranh Bảo kính cảnh giới được tác giả vẽ lên thật rực rỡ và tươi đẹp với nhiều màu sắc. Đó là màu xanh của cây hòe, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen, màu vàng lung linh của ánh nắng chiều. Tất cả hòa quyện lại với nhau. Tạo nên cảnh vật đặc trưng của mùa hè. Không chỉ cảm nhận bằng thị giác, tác giả còn cảm nhận cảnh vật bằng thính giác và khứu giác.

Ông đã rộng mở tâm hồn mình, vận dụng tất cả các giác quan để cảm nhận những chuyển động tế vi nhất của vạn vật xung quanh. Bằng thị giác, nhà thơ ngắm nhìn màu sắc của thiên nhiên: xanh của hoa hòe, đỏ của hoa lựu và ánh nắng đã nhạt của trời chiều. Bằng thính giác, bằng tất cả sự tinh tế ông lắng nghe tiếng ve ngân – thứ âm thanh đặc trưng của mùa hè, từng đàn ve ngân vang khúc ca mùa hạ; không chỉ vậy còn là tiếng “lao xao” của cuộc sống, của những làng chài. Ngoài ra, ông cảm nhận bằng khứu giác, những đóa sen ngát hương, một thứ hương thơm thanh nhã, cao sang ngập đầy trong không gian.

Như vậy, cả thiên nhiên và con người đều hiện lên tràn đầy sức sống, tâm hồn lạc quan, yêu đời, tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên, tha thiết với cuộc sống quê nhà của Nguyễn Trãi. Nhưng không dừng lại ở đó, vẻ đẹp trong tâm hồn của nhà thơ còn được thể hiện qua tấm lòng sâu nặng với nhân dân, đất nước. Hai câu thơ cuối cùng bộc lộ lòng yêu nước thương dân của nhà thơ. Tuy cáo quan về ở ẩn đấy, nhưng tấm lòng của Nguyễn Trãi chưa lúc nào thôi lo lắng cho nhân dân, đất nước:

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương”

Còn gì giản dị, thanh cao, súc tích hơn những lời thơ mộc mạc chân thành ấy! Giữa thiên nhiên tuyệt đẹp, Nguyễn Trãi không hề mong muốn hưởng thụ thú nhàn tản cho riêng mình. Ông không phải con người chỉ chăm chăm giữ lấy sự trong sạch cho riêng mình theo triết lí nhà Nho “độc thiện kỳ thân”. Ở sâu thẳm tâm hồn ông vẫn là nồi niềm “ưu quốc ái dân”, là khát khao hành động của một con người trọn đời vì lợi ích của nhân dân. Tinh thần Nguyễn Trãi vẫn không hề nhụt giảm, vẫn còn nung nấu hoài bão cống hiến cho đất nước thái bình thịnh trị như thời Đường Ngu - xã hội thịnh trị lý tưởng theo quan niệm nho gia. Giản dị thay và cũng cao cả thay sáu chữ đúc kết tấm lòng Nguyễn Trãi hướng về nhân dân, Quả thật, riêng ông trong hoàn cảnh bấy giờ có nhiều nỗi buồn, nhưng bản chất tâm hồn Nguyễn Trãi luôn “trong sáng và đầy sức sống” (lời cố thủ tướng Phạm Văn Đồng). Tâm hồn ấy chỉ cháy bỏng niềm mong ước đem lại cho nhân dân cuộc sống giàu đủ. Niềm mong mỏi nhân dân “khắp nơi không một tiếng hờn giận oán sầu” chính là minh chứng cho nhân cách trong sáng tuyệt vời của Nguyễn Trãi.

Bên cạnh nội dung, tình cảm đáng trân trọng, bài thơ “Bảo kính cảnh giới” còn thể hiện cái tài của Nguyễn Trãi trong nghệ thuật văn chương. Với tác phẩm này, ông dùng thể thơ thất ngôn xen với lục ngôn và dùng chữ Nôm làm ngôn ngữ nghệ thuật có sức biểu cảm, biểu nghĩa tuyệt vời. Các hình cảnh của thôn dã được ông đưa vào thơ gợi sự gần gũi, bình dị và mang đậm “chất” Việt Nam. Nếu văn chương cổ bài xích hình ảnh dân dã như “chợ cá” hay âm thanh của đời thường, thì Nguyễn Trãi lại yêu thích và đưa vào thơ, tạo sự gần gũi, bình dị và mang đậm “chất” Việt Nam”.