1. Thực tiễn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.

Từ khi Thông tư liên tịch 06/2018 có hiệu lực thi hành, đến nay, VKSND TP. Hồ Chí Minh cũng như các quận/huyện tại TP. HCM chưa áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thay thế tạm giam cho vụ án nào. 

Ví dụ: Năm 2015, ông Byron McLaughlin (61 tuổi, quốc tịch Dominicana) từng có đơn cầu cứu đến Báo Thanh Niên về trường hợp thuộc cấp của mình, là người VN, bị tạm giam để điều tra hành vi "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Việc vị thuộc cấp bị tạm giam đã khiến 4 công ty của ông tại Bình Dương phải ngưng sản xuất và gần 700 công nhân tạm thời không có việc làm. Để hạn chế thiệt hại do hành trình tố tụng kéo dài, ông Byron McLaughlin tự nguyện nộp hơn 3 tỉ đồng (ông cho rằng tương đương số tiền tranh chấp) vào tài khoản tạm giữ của cơ quan điều tra; đồng thời có đơn xin đặt tiền bảo đảm để thay đổi biện pháp ngăn chặn cho thuộc cấp được tại ngoại, nhưng cơ quan tố tụng không chấp nhận.

Hãy trong vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông nghiêm trọng ở khu vực Hàng Xanh (TP. HCM). Khuya ngày 21/10/2018, bà Nguyễn Thị Nga (47 tuổi, ngụ tại TP. HCM) điều khiển xe ô tô chạy trên đường Điện Biên Phủ với tốc độ cao. Đến ngã tư Hàng Xanh, xe của bà Nga tông vào nhiều xe máy đang dừng đèn đỏ và một taxi làm một người tử vong và nhiều người khác bị thương… Cơ quan CSĐT Công an Quận Bình Thạnh đã khởi tố vụ án “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ”, khởi tố bị can và bắt tạm giam bà Nga để phục vụ điều tra. Bị can cùng gia đình có đề nghị đặt tiền để bảo đảm cho bị can được tại ngoại; cơ quan tiến hành tố tụng liên quan có xin ý kiến cấp trên, nhưng do vụ án đang được dư luận quan tâm nên các cơ quan tiến hành tố tụng… ngại áp dụng. Tháng 2/2019 cơ quan điều tra Công an Quận Bình Thạnh thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang cấm đi khỏi nơi cư trú, đồng thời có lệnh cấm xuất cảnh đối với bà Nga. Lý do bị can được tại ngoại là: “có nơi cư trú rõ ràng, được bảo lãnh của gia đình, có 7 bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can, đồng thời bà Nga tích cực bồi thường cho bị hại nên không nhất thiết phải tạm giam”.

2. Vì sao biện pháp đặt tiền để bảo đảm ít được áp dụng?

- Thứ nhất, trong vụ án hình sự cứ liên quan đến tiền mà cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng là rất nhạy cảm.

- Thứ hai, trong quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn nhẹ hơn tạm giam, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng có cân nhắc, lựa chọn để có phương án áp dụng “hay hơn”. Thay vì áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo bảo, các cơ quan tiến hành tố tụng hay áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Vì áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú mang lại hiệu quả cao hơn, đảm bảo hơn khi có sự kết hợp giám sát bị can từ chính quyền địa phương.

- Thứ ba, việc quy định mức tiền cụ thể sẽ dẫn đến sự thay đổi vì trong khoảng thời gian áp dụng chắc chắn sẽ có sự điều chỉnh mức tiền đặt. Mặt khác, việc quy định cụ thể cũng không tạo ra sự chủ động, linh hoạt của cơ quan tiến hành tố tụng.

Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC:

1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định mức tiền cụ thể mà bị can, bị cáo phải đặt để bảo đảm, nhưng không dưới:

a) Ba mươi triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Một trăm triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) Hai trăm triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Ba trăm triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

....

Thứ năm, việc áp dụng đặt tiền để được tại ngoại thời điểm này không phù hợp vì nhìn chung ý thức của người dân chưa cao, công tác quản lý chưa thực sự tốt, nhiều trường hợp bị can, bị cáo được đặt tiền để tại ngoại đã bỏ trốn. Nói chung lợi ích ít mà nguy cơ nhiều nên cơ quan chức năng không áp dụng nhiều. 

3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

-  Cần khuyến khích áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với tội phạm ít nghiêm trọng trước bởi vì lý do tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do loại tội phạm này gây ra ở mức thấp, không ảnh hưởng quá nhiều đến dư luận nên cũng dễ dàng hơn khi áp dụng.

-  Bổ sung thêm đối tượng người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần vào quy định tại Điều 122 BLTTHS năm 2015 vì đây cũng là đối tượng được đặt tiền. Mặc dù Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC có khắc phục nhưng đây chỉ là giải pháp tạm thời. Đồng thời, cần bổ sung vào Điều 122 về tình trạng tài sản của người thân thích, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo do quy định trong điều luật chỉ căn cứ vào tình trạng tài sản của bị can, bị cáo.

- Quy định tại BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC không quy định trong trường hợp Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp này nhưng Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định áp dụng của Cơ quan điều tra thì xử lý số tiền mà họ đã đặt như thế nào? Thủ tục hoàn trả và thời gian hoàn trả số tiền đó ra sao? Do đó, cần phải có quy định cụ thể áp dụng trong trường hợp này.

- Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC chưa nêu rõ nếu ở giai đoạn điều tra đã áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì khi chuyển hồ sơ qua Viện kiểm sát và Tòa án, các cơ quan này có tiếp tục áp dụng theo Quyết định của Cơ quan điều tra nếu có căn cứ tiếp tục cho họ tại ngoại hay sẽ phải tự mình ra Quyết định áp dụng biện pháp này. Việc duy trì quyết định của Cơ quan trước sẽ hạn chế các thủ tục như hủy quyết định áp dụng, các thủ tục trả lại tiền, rồi sau khi ra quyết định áp dụng mới, lại làm thủ tục nộp tiền lại… Như vậy thủ tục sẽ rất phức tạp, nhiêu khê. Do đó, cần xác định tính liên tục về hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp này trong suốt các giai đoạn tố tụng.

4. Ai có quyền đề nghị nộp tiền để bị can, bị cáo được tại ngoại?

- Bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền đề nghị bằng văn bản với cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo trừ trường hợp:

+ Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

+ Bị can, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

+ Bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã.

+ Phạm nhiều tội;

+ Phạm tội nhiều lần.

Đơn đề nghị của bị can, bị cáo, được gửi qua cơ sở giam giữ hoặc gửi trực tiếp cho cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn đề nghị của bị can, bị cáo, cơ sở giam giữ có trách nhiệm chuyển đến cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án.

Đơn đề nghị của người thân thích, người đại diện của bị can, bị cáo được gửi trực tiếp đến cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn đề nghị và các giấy tờ có liên quan, cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án có trách nhiệm xem xét, nếu thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì ra Thông báo cho bị can, bị cáo, người thân thích hoặc người đại diện của bị can, bị cáo theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này để làm thủ tục đặt tiền để bảo đảm. Trường hợp thấy không đủ điều kiện áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo thì phải thông báo bằng văn bản cho người đề nghị biết trong đó nêu rõ lý do.

5. Số tiền nộp để bị can, bị cáo tại ngoại được xử lý như nào?

- Cơ quan quản lý tiền đặt để bảo đảm:

+ Tiền được đặt để bảo đảm trong giai đoạn điều tra, truy tố được quản lý trong tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án tại Kho bạc Nhà nước;

+ Tiền được đặt để bảo đảm trong giai đoạn xét xử được quản lý trong tài khoản tạm giữ của Tòa án nhân dân nơi có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tại Kho bạc Nhà nước;

+ Tiền được đặt để bảo đảm theo quyết định của Cơ quan điều tra trong quân đội, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự được quản lý tại cơ quan tài chính tương ứng trong Quân đội.

- Sau khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can; Bị can, bị cáo chết; Bị can, bị cáo đã chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan; Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam; thì tiền đã đặt để bảo đảm được trả lại cho bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là chủ sở hữu số tiền theo cam kết khi đề nghị được đặt tiền để bảo đảm.

Trường hợp bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất chết thì tiền đã đặt để bảo đảm được xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành về thừa kế.

- Trong trường hợp bị can, bị cáo bị bắt tạm giam về tội đã phạm trước khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc tiếp tục phạm tội; Bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tiền đã đặt để bảo đảm bị tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)