Một trong những khác biệt dễ nhận thấy nhất giữa Walras và Marshall là quan tâm đến cái gọi là định luật thị trường, gọi là “cơ chế điều chỉnh”. Liên quan mật thiết với phương pháp điều chỉnh cân bằng cung cầu là khái niệm cầu vượt cung và tính ổn định cân bằng trong các hệ thống Walras và Marshall.

1. Điều chỉnh giá cả so với điều chỉnh số lượng

Khác nhau cơ bản giữa Walras và Marshall liên quan đến cơ chế điều chỉnh thị trường là Walras xem giá cả như một biến số điều chỉnh khi thị trường nằm trong sự mất cân bằng trong khi Marshall tập trung vào số lượng như biến số điều chỉnh. Walras xem các phương trình (hay hàm) cung cầu dưới dạng sau:

Qd, =f(px) (16-1)

Qs, =f(px) (16-2)

Marshall trái lại xem các môi quan hệ hàm theo cách khác:

DSx=f(qx) (16-3)

s5x=f(qx) (16-4)

Giải thích hai phương thức trên như sau:

Thứ nhất, các phương trình cung cầu đều được gọi là các “hàm” vì trong trường hợp của Walras, số lượng được yêu cầu và số lượng được cung cấp của một số hàng hóa X - vế bên trái của phương trình (16-1) và (16-2) được gọi là các hàm (/) của giá X - vế bên phải của phương trình (16-1) và (16-2). Trái lại, Marshall liên kết giá cung cầu của một số hàng hóa X đối với số lượng X được yêu cầu và cung cấp.

>> Xem thêm:  Học thuyết pháp luật tự nhiên là gì ? Tìm hiểu học thuyết pháp luật tự nhiên

Biến số mô tả trong các dấu ngoặc đơn ở vế phải của tất cả phương trình gọi là biến số độc lập (hay giá cả trong trường hợp của Walras, và số lượng trong trường hợp của Marshall). Thay đổi trong biến số độc lập là nguyên nhân tạo ra biến số phụ thuộc - vế trái của phương trình (16-1) đến (16-4) - đều có những giá trị khác nhau. Phát biểu đơn giản, Walras ngụ ý số lượng được yêu cầu và cung cấp trong một số cách đối với giá cả, trong khi Marshall ngụ ý giá theo mức cầu và giá cung ứng tùy thuộc một số cách dựa trên số lượng hàng hóa.

Về khái niệm, người ta có thể hình dung những người có nhu cầu và mức cung hiện tại có một bảng kê giá cả mà họ muốn đối với số lượng có thể cung cầu ở các giá cả thay thế. Điểm E tượng trưng cho giá cân bằng và số lượng mà sự cạnh tranh tạo ra trong thị trường. Nếu, vì một lý do nào đó, giá cả được hình thành dưới giá cân bằng, nghĩa là ở p2, thì số lượng được yêu cầu ở mức giá đó sẽ vượt quá số lượng được cung ứng và sự khan hiếm sẽ xảy ra. Sự khan hiếm này tạo ra sự cạnh tranh giữa các người mua, lần lượt trả giá cao hơn. Khi giá tăng, một số người có nhu cầu bị loại ra khỏi thị trường, kể cả một số người bán. Nói cách khác cũng có những tác động thị trường, làm cho giá cả và số lượng phải trở về điểm cân bằng E. Tương tự, nếu giá luôn cao hơn mức cân bằng, thì sự thặng dư hàng hóa sẽ xảy ra, và cạnh tranh giữa những người cung ứng sẽ giảm giá, do đó tăng số lượng người có nhu cầu trong thị trường và giảm số lượng các nhà cung ứng. Nói cách khác, giá cả là tác động điều chỉnh (biến số độc lập), và ngoài ra, là cơ chế giá, dựa vào sự thay đổi khỏi mức cân bằng, gây ra sự trở lại mức cân bằng. Vì lý do này, hệ thống theo Walras là ổn định.

2. Sự ổn định hàm cầu vượt cung của Walras

Tính ổn định có thể mô tả theo cách thay thế, theo nghĩa khái niệm cung vượt cầu. Cung vượt cầu được định nghĩa đơn giản như sự khác nhau giữa số lượng được yêu cầu và số lượng được cung ứng ở bất kỳ giá nhất định, hay ký hiệu bằng ED = (Qd - Qs). Ví dụ, cung vượt cầu ở giá P1 là số âmQd - Qs giá đó là âm. Vì thế cung vượt cầu âm có thể xem là cung quá lượng dương. Cung vượt cầu bằng 0 ở giá cân bằng và dương ở giá dưới mức cân bằng. Điểm quan trọng là đối với tính ổn định trong hệ thống Walras, hàm ED phải dốc âm.

Lúc này chúng ta xét đến cơ chế điều chỉnh và thuộc tính ổn định theo Walras, một lần nữa tái tạo tình huống mà mọi người thường nghĩ gặp phải trong thị trường thực, nghĩa là hàm cung dốc dương và đường cong cầu dốc âm. Khác nhau về khái niệm giữa Walras và Marshall là Marshall vẽ đường cong cung cầu bằng cách trình bày một bảng kê các số lượng thay thế đối với người cung ứng và người có nhu cầu và yêu cầu họ liệt kê các giá theo mức cầu tối đa sẽ dựa vào những số lượng ấy và giá cung ứng tối thiểu ở đó các số lượng ấy có thể sản xuất. Điều chỉnh diễn ra trong thị trường (khi cung cầu không cân bằng) không phải là điều chỉnh giá, như Walras giả định, mà là số lượng điều chỉnh.

Điều chỉnh số lượng của Marshall có thể phân tích như sau:

Giả định số lượng vì một lý do nào đó thấp hơn số lượng cân bằng Qg.

Số lượng Q1 chẳng hạn thấp hơn Qo, nhưng ở số lượng Q], giá theo mức cầu (tượng trưng bằng điểm F trên đường cong cầu) lớn hơn giá cung ứng (tượng trưng bằng điểm G trên đường cong cung). Theo Marshall, khi Dp > Sp các doanh nghiệp trong công nghiệp cạnh tranh đang thu lợi nhuận kinh tế. Vì thế, đầu ra sẽ tăng, mang thị trường trở lại cân bằng ở E. Tương tự, nếu đầu ra vượt khỏi mức cân bằng, như ở số lượng Q2, giá cung ứng cho đầu ra ấy (tượng trưng bằng điểm H) sẽ lớn hơn giá theo mức cầu (điểm J), thiệt hại kinh tế sẽ buộc doanh nghiệp giảm đầu ra. Sự cân bằng được tái lập ở Qo. Vì thế, sự cân bằng Marshall ổn định. Dựa vào sự mất cân bằng, nói cách khác, các tác động cơ bản trong hệ thống sẽ bảo đảm quay trở về cân bằng. Tương tự, theo nghĩa hàm dư thừa phát triển đối với nhu cầu cân bằng Marshall, thì các hàm Marshall được xem là ổn định. Dựa vào các đường cong cung dốc dương và các hàm cầu dốc âm, tính ổn định Marshall và Walras mà mỗi tính ổn định ấy đều cần hàm cầu vượt cung dốc âm.

3. Cung lũy thoái

Khía cạnh lý thú nhất trong tiến trình điều chỉnh Walras-Marshall liên quan đến vấn đề các đường cong cung lũy thoái. Có hai ví dụ minh họa. Thứ nhất, như thực tế các tác giả Trọng thương nhận thức rõ, đường cong cung lao động sẽ lũy thoái nếu công nhân trao đổi thu nhập phụ từ công việc để có thời gian rỗi nhiều hơn, sao cho họ làm ít nhưng hưởng lương nhiều. Ví dụ thứ hai về cung lũy thoái có thể rút ra từ thị trường dành cho ngoại hối trong tài chính quốc tế. Trong một số điều kiện, với sự hiện diện của nhu cầu không co dãn dành cho hàng hóa nhập khẩu, mức cung ứng ngoại hối có thể lũy thoái (muốn biết chi tiết nên đọc Allen trong “Stable and Unstable Equilibrium in the Foreign Exchanges”). Điểm thảo luận này là khả năng các điểm giao nhau cung cầu dốc âm sẽ xảy ra trong thị trường thế giới thật. Dựa vào khả năng này, tính ổn định cân bằng của Walras lẫn Marshall đều tiến hành theo khuôn khổ mới, như trong thảo luận sau chứng minh.

>> Xem thêm:  Thị trường giao dịch tập trung là gì ? Thị trường giao dịch phi tập trung là gì?

Cứ cho rằng thị trường (nghĩa là dành cho lao động) trong đó đường cong cầu chỉ giao nhau với phần lũy thoái của đường cong cung. Nơi ở giá theo mức cầu p0, số lượng được yêu cầu bằng với số lượng được cung cấp. Rõ ràng hệ thống ổn định theo Walras vì sự thay thế giá khỏi mức cân bằng phát sinh tác động cạnh tranh đảm bảo sẽ trở về mức cân bằng.

Hệ thống mô tả theo Marshall là bất ổn định. Điều này có thể xác minh bằng giả định một số số lượng Q; ít hơn số lượng cân bằng Qo.Qj, giá cung ứng G rõ ràng lớn hơn giá theo mức cầu F. Trong trường hợp này, Marshall hình dung sự thiệt hại kinh tế và giảm đầu ra được cung ứng. Bất cứ sự giảm đầu ra từ Q1 sẽ làm tăng sự khác biệt giữa cung cầu. Tóm lại sự cân bằng không bao giờ đạt đến. Bất cứ sự đi chệch từ điểm E tiếp theo sau là sự xáo trộn thị trường nếu tiến hành điều chỉnh Marshall.

Không cần tưởng tượng nhiều mới hiểu thuộc tính ổn định khi gọi tên các đường cong cung cầu là nghịch đảo. Trong trường hợp này, đường cong cung sẽ giao với đường cong cầu từ phía trên. Hàm cung vượt cầu tương ứng với những đường cong này có thể dốc dương. Hệ thống bất ổn theo Walras bởi lẽ ở điểm p0, số lượng được yêu cầu sẽ vượt quá số lượng được cung cấp. Giá sẽ tăng vì các tác động cạnh tranh, đẩy hệ thống chệch khỏi mức cân bằng. Thế nhưng, điều chỉnh Marshall trong trường hợp này sẽ tạo ra tính ổn định, vì ở số’ lượng thấp hơn số lượng cân bằng Qo, giá theo mức cầu sẽ vượt khỏi giá cung ứng, vì thế tạo ra sự trở về mức cân bằng. Tóm lại, hàm cung vượt cầu dốc dương (đi kèm với các bảng kê cung cầu dốc âm) diễn đạt tính bất ổn định trong hệ thống Walras và tính ổn định trong hệ thống Marshall. Tính ổn định (theo nghĩa cầu vượt cung) cân đối trong cả hai hệ thống đối với bảng kê cung cầu bình thường, nhưng mất cân đối khi các đường cong cung cầu đều dốc âm.

4. Ổn định thị trường

Thoạt nhìn, vấn đề ổn định có vẻ khó hiểu và khó khăn nếu không nói là hoàn toàn không liên quan. Chẳng hạn, có thể cho rằng vấn đề thị trường bất ổn bị loại trừ khi đối mặt với kinh nghiệm thị trường. Nếu bằng “thị trường bất ổn” chúng ta muốn ám chỉ “sự bùng nổ” giá cả và số lượng chệch khỏi mức cân bằng, thì khi đó ít có chứng cứ thực nghiệm về sự tồn tại của những hiện tượng như thế. Mặc dù tính bất ổn không được quan sát trong thị trường thế giới thực, thì vấn đề tính ổn định tỏ ra không liên quan hơn nhiều. Có lẽ những hạn chế trong thế giới thực (thị trường kỳ hạn và/hay buôn chứng khoán trong tài chính quốc tế) ngăn cản thị trường tránh sự bùng nổ. Ngoài ra, nếu thị trường được cho là ổn định, thì dù sao điều quan trọng thực sự là nhận thức tiến trình qua đó sự cân bằng được thay thế và biện pháp mà trong đó nó được phục hồi. Mặc dù vấn đề cân bằng thị trường nói đúng ra là vấn đề khác với vấn đề ổn định, các tiến trình đánh giá của Marshall và Walras đi đôi với sự phân tích tính ổn định và bất ổn định của họ buộc phải lưu tâm đến vấn đề.

5. Định lý Mạng nhện

Khi một yếu tố động lực được giới thiệu trong tiến trình tĩnh của Walras và Marshall, các điều kiện thay thế tính ổn định phải được phái sinh. Cái gọi là định lý mạng nhện, nổi tiếng đối với các nhà kinh tế nông nghiệp vì chủ yếu ứng dụng vào hàng hóa có tiến trình sản xuất dài là một mô thức như thế. Các mô thức biến số chậm trễ thuộc loại mạng nhện có nhiều ngụ ý quyết định đối với tính ổn định trong các thị trường nông nghiệp thế giới thực.

Tầm quan trọng thực tế của tính ổn định có lẽ bảo vệ bằng sự quan tâm học thuật đối với tính ổn định. Các lý thuyết gia kinh tế đương thời, tiếp theo sau sự dìu dắt của Walras và Marshall, chứng minh sự quan tâm thường xuyên trong thảo luận thuộc tính ổn định của các mô thức phân tích của họ. Nhưng vẫn chưa đủ để mô tả một mô thức. Đúng ra, điều quan trọng phải chứng minh mô thức có những thuộc tính làm cho nó ổn định và có thể tồn tại. Phần lớn các đóng góp quan trọng nhất trong Kinh tế Vĩ mô và lý thuyết Tiền tệ, ví dụ, giải quyết sự thay thế cân bằng thị trường và tiến trình phục hồi sự cân bằng.

6. Tâtonnement

Walras gọi tiến trình khá phức tạp này là tâtonnement -dò dẫm tìm sự cân bằng - và trong phân tích đương đại khái niệm của ông hoàn toàn hữu dụng trong rất nhiều mô thức hành vi phân tích kinh tế vi mô và Kinh tế Vĩ mô. Các lý thuyết gia kinh tế vi mô và cân bằng tổng quát chẳng hạn như những người đoạt giải Nobel như Sir John R. Hicks và Kenneth Arrow đã dành nhiều thời gian cho các vấn đề như: Có phải sự cân bằng có thể cạnh tranh hay không, và nếu có sự thay thế, thì hệ thống có trở lại cân bằng không?

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về Triết học pháp quyền của Hegen

Vấn đề tồn tại và tính ổn định cân bằng mà nền kinh tế đang hướng đến là vấn đề mang tầm quan trọng tới hạn trong phát triển phân tích thế kỷ 20. Trong khi những tác giả ban đầu (ví dụ Cournot) chỉ nhắm đến tầm quan trọng của những vấn đề này, thì Walras và Marshall (nhất là Walras) xem tính ổn định là một phần thiết yếu trong hệ thống phân tích. Từ quan điểm hiện đại, đây là một đóng góp ngoại hạng.

Như một chú thích cuối trang lịch sử thú vị, cả hai Walras và Marshall đều khẳng định tính ưu tiên trong sự phát triển phân tích tính ổn định. Vấn đề ưu tiên đưa ra trong trao đổi thư từ giữa Marshall và Jevons (Walras, Elements, trang 502, chú thích cuối trang 5). Marshall khẳng định đã phát triển vấn đề tính ổn định năm 1873, nhưng như giáo sư William Jaffe nhận xét, sự “phát triển” này không gì hơn là tính gợi ý. Chắc hẳn, trong quyển sách tự bỏ tiền in Pure Theory of Foreign Trade (1879), Marshall định nghĩa sự cân bằng ổn định có liên quan đường cong cầu tương hỗ (xem thảo luận về lý thuyết nhu cầu tương hỗ Mill-Marshall). Nhưng Walras cũng in tác phẩm như thế vào đầu năm 1874, vì thế được ưu tiên xuất bản.


LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)

>> Xem thêm:  Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) là gì? Tìm hiểu về Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Cuộc đấu giá Walras là gì?

Trả lời:

Một cuộc đấu giá Walras , được giới thiệu bởi Léon Walras , là một loại đồng thời bán đấu giá trong đó mỗi đại lý tính toán nhu cầu của mình vì lợi ích ở mọi mức giá tốt và trình này cho một người bán đấu giá. Sau đó, giá được đặt sao cho tổng cầu trên tất cả các đại lý bằng tổng số lượng hàng hóa. Do đó, một cuộc đấu giá Walrasian hoàn toàn phù hợp với cung và cầu.

 

Câu hỏi: Thế nào là định lý Sonnenschein-Mantel-Debreu?

Trả lời:

Các định lý Sonnenschein-Mantel-Debreu là một kết quả quan trọng trong việc cân bằng tổng thể kinh tế, chứng minh bởi Gérard Debreu, Rolf Mantel, và Hugo F. Sonnenschein vào những năm 1970. Nó nói rằng đường cầu dư thừa đối với một thị trường có các tác nhân hợp lý tối đa hóa tiện ích có thể có hình dạng của bất kỳ hàm nào liên tục , có độ đồng nhất bằng 0 và phù hợp với Định luật Walras. Điều này ngụ ý rằng các quá trình thị trường sẽ không nhất thiết phải đạt đến một điểm cân bằng duy nhất và ổn định.

 

Câu hỏi: Người bán đấu giá Walrasian là gì?

Trả lời:

Người bán đấu giá Walrasian là người đấu giá được cho là phù hợp với cung và cầu trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Đấu giá viên cung cấp các tính năng của cạnh tranh hoàn hảo: thông tin hoàn hảo và không có chi phí giao dịch. Quá trình này được gọi là tâtonnement, hay mò mẫm, liên quan đến việc tìm kiếm giá thanh toán bù trừ trên thị trường cho tất cả các mặt hàng và tạo ra trạng thái cân bằng chung.