1. Vai trò thiết yếu của bác sĩ gây mê hồi sức

Vai trò của bác sĩ gây mê hồi sức là vô cùng quan trọng trong quá trình phẫu thuật và hồi sức sau phẫu thuật, bao gồm:

- Đánh giá và lập kế hoạch gây mê: Bác sĩ gây mê đầu tiên phải đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân để xác định phương pháp gây mê phù hợp nhất. Họ phải xem xét các yếu tố như tuổi, tình trạng bệnh lý, lịch sử y tế và dị ứng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

- Thực hiện gây mê: Sử dụng các loại thuốc và kỹ thuật để đưa bệnh nhân vào trạng thái vô cảm và giảm đau an toàn. Kiểm soát liều lượng và các yếu tố liên quan để đảm bảo bệnh nhân không cảm thấy đau và không nhớ lại quá trình phẫu thuật.

- Theo dõi và điều chỉnh tình trạng bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật: Liên tục theo dõi các dấu hiệu sinh tồn như huyết áp, nhịp tim, sự bão hòa oxy trong máu để phát hiện và giải quyết các vấn đề nguy hiểm kịp thời. Điều chỉnh liều lượng thuốc và các biện pháp để duy trì trạng thái ổn định cho bệnh nhân suốt quá trình phẫu thuật.

- Hỗ trợ hồi sức sau phẫu thuật: Theo dõi và điều trị các vấn đề hậu phẫu như đau, buồn nôn, biến chứng do gây mê. Đảm bảo bệnh nhân hồi phục an toàn và nhanh chóng sau khi phẫu thuật. Hướng dẫn và cung cấp thông tin cho bệnh nhân và gia đình về quá trình hồi phục và chăm sóc sau khi xuất viện.

 

2. Quy trình làm việc chuyên nghiệp của bác sĩ gây mê hồi sức

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư 12/2012/TT-BYT về nhiệm vụ của các bác sĩ trong khu phẫu thuật như sau:

- Tổ chức và chịu trách nhiệm về chuyên môn gây mê - hồi sức: Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về chuyên môn gây mê - hồi sức theo sự phân công của trưởng khoa.

- Xử lý tình huống vượt quá khả năng chuyên môn: Trong trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn hoặc xảy ra tai biến, phải kịp thời báo cáo trưởng khoa.

- Kiểm tra và giám sát: Đôn đốc, kiểm tra, nhắc nhở các bác sĩ, điều dưỡng viên, các nhân viên y tế và các đối tượng khác (nếu được phép) có mặt trong phòng mổ, bảo đảm kiểm soát nhiễm khuẩn trong phòng mổ.

- Kiểm tra hồ sơ và người bệnh: Kiểm tra người bệnh, hồ sơ bệnh án gây mê - hồi sức trước và sau phẫu thuật; các tài liệu phải được ghi đầy đủ, chính xác và trung thực.

- Luôn có mặt khi gây mê - hồi sức: Luôn có mặt khi gây mê - hồi sức cho người bệnh, trừ trường hợp đã có bác sĩ gây mê - hồi sức khác thay thế sau khi đã bàn giao đầy đủ.

- Phối hợp chặt chẽ với các khoa và người thực hiện phẫu thuật: Phối hợp chặt chẽ với các khoa và người thực hiện phẫu thuật, thủ thuật có liên quan để hoàn thành tốt công việc, thực hiện kế hoạch phẫu thuật, theo dõi và chăm sóc người bệnh trước, trong và sau phẫu thuật.

- Tham gia duyệt phẫu thuật và chuẩn bị người bệnh: Tham gia duyệt phẫu thuật, thủ thuật, khám và chuẩn bị người bệnh trước gây mê để đánh giá, giải thích, có thể bổ sung các xét nghiệm hoặc điều trị, mời hội chẩn nếu cần, lập kế hoạch gây mê - hồi sức.

- Khám lại người bệnh trước phẫu thuật: Khám lại người bệnh tại khoa phòng trong thời gian từ 01-07 ngày trước khi phẫu thuật, thủ thuật theo kế hoạch. Thực hiện khám trước, trong hoặc sau phẫu thuật cấp cứu tùy thuộc tính chất khẩn cấp của can thiệp ngoại khoa.

- Giám sát điều dưỡng viên gây mê - hồi sức: Phân công, giám sát các hoạt động chuyên môn của điều dưỡng viên gây mê - hồi sức.

- Kiểm tra phương tiện và thuốc: Kiểm tra lại các phương tiện và thuốc gây mê - hồi sức mà điều dưỡng viên gây mê - hồi sức đã chuẩn bị trước đó. Tự kiểm tra lại hồ sơ bệnh án về tên tuổi, vị trí phẫu thuật của người bệnh. Thực hiện các kỹ thuật khó như mở khí quản, dẫn lưu màng phổi, chọc tĩnh mạch trung tâm, gây tê vùng, đặt nội khí quản tiên lượng khó.

- Kiểm tra trước khi truyền máu: Kiểm tra trước khi truyền máu và chế phẩm máu theo quy định tại Quy chế truyền máu ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-BYT ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

- Quản lý bàn mổ: Một bác sĩ gây mê - hồi sức cùng một thời điểm chịu trách nhiệm gây mê - hồi sức tối đa 02 bàn mổ liền kề nhau với điều kiện sẵn sàng can thiệp lúc cần thiết và điều dưỡng viên gây mê - hồi sức luôn có mặt để theo dõi người bệnh. Trường hợp đặc biệt cần phụ trách cùng một lúc nhiều hơn 02 bàn mổ thì phải được sự nhất trí và chịu trách nhiệm của trưởng khoa gây mê - hồi sức.

- Xử lý biến chứng và tai biến: Trong trường hợp xảy ra biến chứng, tai biến nặng phải báo cáo trưởng khoa và tập trung chi viện, giúp đỡ lẫn nhau về nhân lực, phương tiện và thuốc.

- Phối hợp cấp cứu: Trong trường hợp cần xử trí cấp cứu, có thể phối hợp với bác sĩ phẫu thuật, điều dưỡng viên gây mê - hồi sức thực hiện y lệnh trực tiếp trong phòng phẫu thuật, sau đó phải ghi chép đầy đủ vào hồ sơ bệnh án theo quy định.

- Chịu trách nhiệm về bệnh nhân sau gây mê: Chịu trách nhiệm về gây mê - hồi sức cho đến khi người bệnh hết tác dụng của phương pháp gây mê và của thuốc an thần, gây mê, gây tê. Chịu trách nhiệm về y lệnh chuyển người bệnh ra khỏi phòng mổ, từ bộ phận hồi tỉnh chuyển về bộ phận hồi sức ngoại khoa, khoa phòng khác hay xuất viện. Khi người bệnh có nguy cơ cao (tuần hoàn không ổn định, suy hô hấp, đang hỗ trợ hô hấp qua ống nội khí quản hay qua ống mở khí quản, đang dùng thuốc vận mạch hoặc tình trạng nặng khác), phải bố trí nhân lực có đủ trình độ chuyên môn phối hợp vận chuyển người bệnh để kịp thời xử trí.

 

3. Điều kiện hành nghề của bác sĩ gây mê hồi sức

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư 13/2012/TT-BYT hướng dẫn công tác gây mê - hồi sức do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, bác sỹ gây mê - hồi sức được hiểu là bác sĩ đã được đào tạo về chuyên khoa gây mê - hồi sức từ 18 tháng trở lên và được cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

Để trở thành bác sĩ gây mê hồi sức, các ứng viên cần phải sở hữu những kiến thức chuyên môn sâu rộng, kỹ năng y khoa thành thạo và phẩm chất tốt đẹp. Cụ thể như sau:

- Kiến thức chuyên môn: Nắm vững các kiến thức về sinh lý và bệnh lý của cơ thể, đặc biệt là các hệ thống liên quan trực tiếp đến quá trình gây mê và hồi sức như hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ tim mạch. Hiểu rõ về dược lý học, đặc biệt là các loại thuốc gây mê, thuốc an thần, thuốc giãn cơ và các loại thuốc hỗ trợ khác. Có kiến thức sâu về tim mạch học và hô hấp học để xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình gây mê và hồi sức. Hiểu rõ về quản lý dịch và cân bằng điện giải để duy trì ổn định tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật và hồi sức.

- Kỹ năng y khoa: Thành thạo các kỹ thuật gây mê khác nhau, bao gồm gây mê toàn thân, gây tê vùng, và các kỹ thuật gây mê đặc biệt khác. Có khả năng thực hiện các biện pháp hồi sức tim phổi, quản lý đường thở, và xử lý các tình huống cấp cứu. Sử dụng thành thạo các máy móc, thiết bị y tế hiện đại như máy thở, máy theo dõi dấu hiệu sinh tồn, máy gây mê. Có khả năng thực hiện các kỹ thuật can thiệp khó như mở khí quản, chọc tĩnh mạch trung tâm, và dẫn lưu màng phổi.

- Phẩm chất tốt đẹp: Chú ý đến từng chi tiết nhỏ để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình gây mê và hồi sức. Luôn duy trì sự tập trung và tỉnh táo trong mọi tình huống, đặc biệt là trong các ca phẫu thuật kéo dài hoặc phức tạp. Có khả năng làm việc nhóm tốt, phối hợp chặt chẽ với các bác sĩ phẫu thuật, điều dưỡng và các nhân viên y tế khác. Luôn đặt sức khỏe và sự an toàn của bệnh nhân lên hàng đầu, sẵn sàng chịu trách nhiệm trong mọi tình huống. Thể hiện sự thấu hiểu và quan tâm đến bệnh nhân, tạo sự yên tâm và tin tưởng cho họ trong quá trình điều trị.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Nhiệm vụ của các bộ phận trong khoa gây mê hồi sức? Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu trực tiếp tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!