1. Tổng quan về chương trình Tiếng Việt lớp 5 và tầm quan trọng của việc ôn tập hè

Lớp 5 là năm học cuối cùng của bậc tiểu học, giữ vai trò hoàn thiện những kiến thức và kỹ năng nền tảng trước khi học sinh bước vào môi trường học tập ở cấp Trung học cơ sở. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT), môn Tiếng Việt được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, trong đó chú trọng hình thành năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học thông qua bốn kỹ năng cốt lõi: đọc, viết, nói và nghe.

Khác với chương trình trước đây, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 không xem sách giáo khoa là nguồn kiến thức duy nhất mà sử dụng hệ thống ngữ liệu mở, tạo điều kiện để học sinh tiếp cận nhiều dạng văn bản khác nhau. Việc kiểm tra, đánh giá cũng chuyển từ ghi nhớ kiến thức sang đánh giá khả năng vận dụng, đọc hiểu, phân tích và tạo lập văn bản trong những tình huống thực tiễn.

Đây cũng là giai đoạn học sinh chuẩn bị chuyển từ môn Tiếng Việt sang môn Ngữ văn ở lớp 6. Nếu ở tiểu học, học sinh chủ yếu rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ thì lên THCS, các em sẽ bắt đầu tiếp cận sâu hơn với đặc trưng thể loại văn học, phân tích văn bản, nhận diện giá trị nghệ thuật, tư duy phản biện và viết những kiểu bài có yêu cầu cao hơn. Chính vì vậy, việc ôn tập trong dịp hè có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Khoảng thời gian nghỉ hè kéo dài gần ba tháng nếu không duy trì việc học tập thường xuyên sẽ dễ dẫn đến hiện tượng quên kiến thức, giảm khả năng đọc hiểu và diễn đạt bằng ngôn ngữ. Những kỹ năng như viết câu đúng ngữ pháp, sử dụng từ ngữ chính xác, đọc hiểu văn bản hay trình bày suy nghĩ mạch lạc đều cần được luyện tập liên tục để không bị mai một.

Việc ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 không chỉ nhằm củng cố kiến thức đã học mà còn giúp học sinh:

  • Hệ thống hóa toàn bộ kiến thức về từ vựng, ngữ pháp và các quy tắc sử dụng tiếng Việt.
  • Rèn luyện thường xuyên kỹ năng đọc hiểu nhiều loại văn bản khác nhau.
  • Phát triển năng lực viết đoạn văn, bài văn theo đúng quy trình tạo lập văn bản.
  • Mở rộng vốn từ, nâng cao khả năng diễn đạt bằng lời nói và bài viết.
  • Chuẩn bị tâm thế tự tin, chủ động khi bước vào chương trình Ngữ văn lớp 6.

Có thể thấy, ôn tập hè là chiếc cầu nối giúp học sinh chuyển tiếp thuận lợi giữa hai cấp học. Một kế hoạch ôn luyện khoa học sẽ giúp các em vừa duy trì hứng thú học tập, vừa hình thành nền tảng vững chắc để tiếp nhận kiến thức mới ở bậc THCS.

 

2. Tổng hợp các dạng bài tập Tiếng Việt lớp 5 trọng tâm theo chương trình mới

Theo định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, hệ thống bài tập ôn hè cần bao quát đầy đủ ba mạch nội dung lớn gồm: Tri thức tiếng Việt, Đọc hiểu văn bản và Tạo lập văn bản. Các dạng bài được thiết kế nhằm phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt trong thực tiễn thay vì chỉ ghi nhớ lý thuyết.

Tri thức tiếng Việt (Luyện từ và câu)

Đây là mạch kiến thức giúp học sinh sử dụng tiếng Việt chính xác trong giao tiếp và trong quá trình viết văn.

Các dạng bài tập trọng tâm gồm:

  • Phân biệt từ đơn và từ phức.
  • Nhận biết từ ghép, từ láy và phân tích cấu tạo của từ.
  • Xác định từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
  • Lựa chọn từ ngữ phù hợp với từng ngữ cảnh giao tiếp.
  • Nhận diện và sử dụng đúng đại từ, quan hệ từ, cặp quan hệ từ.
  • Xác định chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ trong câu.
  • Phân biệt câu đơn và câu ghép.
  • Phát hiện, sửa lỗi câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ hoặc dùng từ chưa chính xác.
  • Nhận biết các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ và nêu tác dụng của chúng.

Trong quá trình làm bài, học sinh cần kết hợp việc phân tích ngữ cảnh, tra cứu từ điển Tiếng Việt và vận dụng kiến thức ngữ pháp để lựa chọn đáp án phù hợp thay vì ghi nhớ máy móc.

Đọc hiểu văn bản

Đọc hiểu là nội dung được tăng cường trong chương trình mới. Ngữ liệu sử dụng trong đề kiểm tra chủ yếu nằm ngoài sách giáo khoa nhằm đánh giá đúng năng lực tiếp nhận văn bản của học sinh.

Các dạng bài thường gặp gồm:

  • Đọc và trả lời câu hỏi về văn bản văn học.
  • Đọc văn bản thông tin, văn bản thuyết minh đơn giản.
  • Xác định nội dung chính của văn bản.
  • Tìm thông tin được nêu trực tiếp.
  • Suy luận nội dung chưa được nói rõ.
  • Giải thích nghĩa của từ trong ngữ cảnh.
  • Nhận diện biện pháp nghệ thuật.
  • Phân tích tác dụng của hình ảnh, từ ngữ và biện pháp tu từ.
  • Rút ra thông điệp hoặc bài học từ văn bản.
  • Liên hệ nội dung bài đọc với trải nghiệm thực tế.

Để làm tốt phần đọc hiểu, học sinh nên luyện kỹ năng đọc lướt để xác định từ khóa, đọc kỹ câu hỏi trước khi tìm thông tin và biết gạch chân những chi tiết quan trọng trong văn bản.

Tập làm văn

Đây là phần giúp học sinh vận dụng toàn bộ kiến thức ngôn ngữ để tạo lập văn bản hoàn chỉnh.

Các dạng bài trọng tâm gồm:

  • Viết bài văn tả cảnh.
  • Viết bài văn tả người.
  • Viết bài văn tả đồ vật hoặc con vật.
  • Kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe.
  • Kể lại một trải nghiệm đáng nhớ.
  • Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về nhân vật, sự việc hoặc bài thơ.
  • Viết đoạn văn thể hiện ý kiến về một hiện tượng gần gũi trong cuộc sống.

Khi luyện viết, học sinh cần thực hiện đầy đủ quy trình gồm xác định yêu cầu đề bài, tìm ý, lập dàn ý, viết bài và tự kiểm tra để chỉnh sửa lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu và liên kết đoạn văn.

Mối liên hệ giữa ba mạch kiến thức

Ba mạch nội dung trong môn Tiếng Việt không tách rời nhau mà hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình hình thành năng lực ngôn ngữ.

Kiến thức về từ và câu giúp học sinh đọc hiểu chính xác hơn, đồng thời hỗ trợ diễn đạt rõ ràng khi viết văn. Kỹ năng đọc hiểu giúp mở rộng vốn từ, học cách sử dụng ngôn ngữ và tích lũy những cách diễn đạt hay để vận dụng vào bài viết. Trong khi đó, hoạt động viết văn là cơ hội để học sinh tổng hợp toàn bộ kiến thức đã học, thể hiện khả năng tư duy, quan sát và cảm thụ ngôn ngữ.

Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch ôn hè, học sinh nên phân bổ thời gian hợp lý giữa luyện từ và câu, đọc hiểu và tập làm văn. Việc luyện tập cân đối cả ba mạch kiến thức sẽ giúp các em phát triển toàn diện năng lực sử dụng tiếng Việt, tạo nền tảng vững chắc trước khi bước vào chương trình Ngữ văn lớp 6.

 

3. Tuyển tập đề bài tập ôn hè lớp 5 lên lớp 6 môn Tiếng Việt chọn lọc

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 1

Câu 1. Điền các từ thích hợp vào chỗ trống để tạo ra cặp từ trái nghĩa:

- Thất bại là mẹ …

- Sống dở … dở

- Một miếng khi … bằng một gói khi no

- Lên thác … ghềnh

- Trước lạ sau …

- Học … quên sau

- Đi ngược về ...

Câu 2. Sắp xếp các từ sau vào nhóm danh từ riêng và danh từ chung: cây hồng, Hoa Kỳ, sách giáo khoa, Trần Quốc Toản, đất nước, sông hồ, Dinh Độc Lập, cánh đồng, Hoàng Anh, Võ Thị Sáu, máy tính, xe cộ, Bạch Tuyết, điện thoại, bút chì, con đường, Nguyễn Đình Thi, lá cờ.

Câu 3. Cho đoạn thơ:

“Bầm ơi có rét không bầm?
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!”

(Bầm ơi, Tố Hữu)

a. Tìm đại từ trong đoạn thơ trên.

b. Tìm từ đồng nghĩa với từ “bầm”.

c. Tìm hai danh từ trong đoạn thơ trên.

Câu 4. Tả cô giáo mà em yêu quý, trong đó có sử dụng mẫu câu Ai làm gì?

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 2

Câu 1. Từ trái nghĩa với các từ sau: vui vẻ, xấu xí, ồn ào, ngu dốt. 

Câu 2. Đặt câu với mỗi từ sau:

a. mênh mông

b. tranh luận

c. trang phục

d. bảo vệ

Câu 3. Đặt năm câu ghép được nối với nhau bởi các quan hệ từ.

Câu 4. Viết một bài văn tả cảnh biển.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 3

Câu 1. Cho đoạn văn sau:

“Các em học sinh,

Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi đã tưởng tượng thấy thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trường ở khắp các nơi. Các em hết thảy đều vui vẻ vì sau mấy tháng giời nghỉ học, sau bao nhiêu cuộc chuyển biến khác thường, các em lại được gặp thầy gặp bạn. Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này giở đi, các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Các em được hưởng sự may mắn đó là nhờ sự hy sinh của biết bao nhiêu đồng bào các em. Vậy các em nghĩ sao?”

(Thư gửi các học sinh, SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 1)

a. Tìm các đại từ xưng hô trong đoạn văn trên.

b. Tìm từ trái nghĩa với từ “vui vẻ”, “may mắn”.

c. Đặt câu với từ hy sinh, sung sướng.

Câu 2. Gạch chân dưới từ trái nghĩa trong các câu sau:

a. Gạn đục khơi trong

b. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng

c. Ba chìm bảy nổi

d. Xấu người đẹp nết

e. Cá lớn nuốt cá bé

g.

"Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối"

h.

"Anh em như thể chân tay
Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần"

Câu 3. Điền các quan hệ từ thích hợp vào các câu sau:

a. Trời trong vắt … xanh thẳm.

b. Trăng quầng … hạn, trăng tán … mưa.

c. Vì trời mưa … tôi được nghỉ học.

d. Tôi đã đi nhiều nơi, đóng quân nhiều chỗ đẹp hơn đây nhiều, nhân dân coi tôi như người làng … cũng có những người yêu tôi tha thiết, … sao sức quyến rũ, nhớ thương cũng không mãnh liệt, day dứt bằng mảnh đất cọc cằn này.

Câu 4. Viết một bài văn tả cánh đồng lúa quê em, trong đó có sử dụng một câu ghép.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 4

Câu 1. Cho đoạn văn sau:

“Loanh quanh trong rừng, chúng tôi đi vào một lối đầy nấm dại, một thành phố nấm lúp xúp dưới bóng cây thưa. Những chiếc nấm to bằng cái ấm tích, màu sặc sỡ rực lên. Mỗi chiếc nấm là một lâu đài kiến trúc tân kì. Tôi có cảm giác mình là một người khổng lồ đi lạc vào kinh đô của vương quốc những người tí hon. Đền đài, miếu mạo, cung điện của họ lúp xúp dưới chân.”

(Kì diệu rừng xanh, SGK Tiếng Việt 5, Tập 1)

a. Tìm một đại từ trong đoạn văn.

b. Tìm một cặp từ trái nghĩa trong đoạn văn.

c. Đặt câu với các từ:  vương quốc, loanh quanh.

Câu 2. Tìm các từ đồng nghĩa với:

a. chăm chỉ

b. dũng cảm

c. hiền lành

d. xinh đẹp

Câu 3. Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm:

a. ba

b. sâu

c. lợi

Câu 4. Viết một bài văn kể một việc tốt mà bạn em đã làm, trong đó có sử dụng quan hệ từ.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 5

Câu 1. Cho đoạn văn sau:

“Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều màu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xòe hoa. Trong đền, dòng chữ vàng Nam quốc sơn hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.”

(Phong cảnh đền Hùng, SGK Tiếng Việt lớp 5, tập 2)

a. Đặt câu với từ “màu sắc, dập dờn”

b. Tìm một câu ghép trong đoạn văn trên.

Câu 2.

(1) Từ đi trong các câu nào mang nghĩa chuyển?

a. Xe máy đi nhanh hơn xe đạp.

b. Bà cũ ốm rất nặng nên đã đi từ hôm qua.

c. Ghế thấp quá, không đi với bàn được.

d. Em bé mới tập đi.

(2) Từ chân trong các câu nào mang nghĩa gốc?

a. Đôi chân của cô ấy rất đẹp.

b. Em nhìn thấy chân trời xa tít tắp.

c. Chiếc bàn này có bốn chân.

d. Em bé có đôi chân nhỏ xíu.

Câu 3. Cho đoạn văn sau:

“Nhà Út Vịnh ở ngay bên đường sắt. Mấy năm nay, đoạn đường này thường có sự cố. Lúc thì đá tảng nằm chềnh ềnh trên đường tàu chạy, lúc thì ai đó tháo cả ốc gắn các thanh ray. Lắm khi, trẻ chăn trâu còn ném đá lên tàu.”

(Út Vinh, SGK Tiếng Việt lớp 5, tập 2)

a. Tìm năm danh từ trong đoạn văn sau

b. Đặt câu với hai danh từ vừa tìm được.

Câu 4. Kể về một nữ anh hùng mà em biết, trong đó có sử dụng một đại từ.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 6

Câu 1. Đọc và trả lời câu hỏi:

Nhà Út Vịnh ở ngay bên đường sắt. Mấy năm nay, đoạn đường này thường có sự cố. Lúc thì đá tảng nằm chềnh ềnh trên đường tàu chạy, lúc thì ai đó tháo cả ốc gắn các thanh ray. Lắm khi, trẻ chăn trâu còn ném đá lên tàu.

Tháng trước, trường của Út Vịnh đã phát động phong trào Em yêu đường sắt quê em. Học sinh cam kết không chơi trên đường tàu, không ném đá lên tàu và đường tàu, cùng nhau bảo vệ an toàn cho những chuyến tàu qua. Vịnh nhận việc khó nhất là thuyết phục Sơn – một bạn rất nghịch, thường chạy trên đường tàu thả diều. Thuyết phục mãi, Sơn mới hiểu ra và không chơi dại như vậy nữa.

Một buổi chiều đẹp trời, gió từ sông Cái thổi vào mát rượi. Vịnh đang ngồi học bài, bỗng nghe thấy tiếng còi tàu vang lên từng hồi dài như giục giã. Chưa bao giờ tiếng còi lại kéo dài như vậy. Thấy lạ, Vịnh nhìn ra đường tàu. Thì ra hai cô bé Hoa và Lan đang ngồi chơi chuyền thẻ trên đó. Vịnh lao ra như tên bắn, la lớn:

- Hoa, Lan, tàu hỏa đến!

Nghe tiếng la, bé Hoa giật mình, ngã lăn khỏi đường tàu, còn bé Lan đứng ngây người, khóc thét.

Đoàn tàu vừa réo còi vừa ầm ầm lao tới. Không chút do dự, Vịnh nhào tới ôm Lan lăn xuống mép ruộng, cứu sống cô bé trước cái chết trong gang tấc.

Biết tin, ba mẹ Lan chạy đến. Cả hai cô chú ôm chầm lấy Vịnh, xúc động không nói nên lời.

(Út Vịnh, Sách Tiếng Việt lớp 5, tập 2)

1. Nhà Út Vịnh nằm ở đâu?

A. Trên một con phố

B. Ngay bên đường sắt

C. Gần bờ biển

2. Khi nhìn ra đường tàu, Vịnh thấy điều gì?

A. Hoa và Lan đang ngồi chơi chuyền thẻ trên đó.

B. Một tảng đá nằm chềnh ềnh trên đường tàu chạy

C. Bọn trẻ con đang ném đá lên đường tàu.

3. Khi tàu sắp tới, bé Lan vẫn còn đứng ngây người, khóc thét, nhìn thấy vậy Vịnh đã làm gì?

A. Gọi người tới cứu Lan.

B. Hô hào để Lan chạy đi.

C. Nhào tới ôm Lan lăn xuống mép ruộng.

4. Ý nghĩa của câu chuyện

A. Tinh thần dũng cảm cứu người khi gặp nạn.

B. Tôn trọng quy định về an toàn giao thông.

C. Cả 2 đáp án trên

Câu 2. Điền dấu câu thích hợp vào chỗ trống:

Ma-ri-ô và Giu-li-ét-ta, hai tay ôm chặt cột buồm, khiếp sợ nhìn mặt biển. Mặt biển đã yên hơn. Nhưng con tàu vẫn tiếp tục chìm ()

Chiếc xuồng cuối cùng được thả xuống. Ai đó kêu lên: () Còn chỗ cho một đứa bé () Hai đứa trẻ sực tỉnh, lao ra.

- Đứa nhỏ thôi! Nặng lắm rồi. - Một người nói.

Nghe thế, Giu-li-ét-ta sững sờ, buông thõng hai tay, đôi mắt thẫn thờ tuyệt vọng.

Một ý nghĩ vụt đến, Ma-ri-ô hét to () “Giu-li-ét-ta, xuống đi! Bạn còn bố mẹ…”

Nói rồi () cậu ôm ngang lưng Giu-li-ét-ta thả xuống nước. Người ta nắm tay cô lôi lên xuồng()

(Một vụ đắm tàu, Tiếng Việt lớp 5, tập 2)

Câu 3. Tìm từ trái nghĩa với các từ sau:

a. to lớn

b. xinh đẹp

c. chăm chỉ

d. hạnh phúc

e. đông đúc

g. chật hẹp

Câu 4. Tả ngôi trường của em, trong đó có một quan hệ từ.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 7

Câu 1. Cho đoạn văn sau:

“Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Đôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn, bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Đầu tôi to ra và nổi từng tảng, rất bướng. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng. Tôi lấy làm hãnh diện với bà con về cặp râu ấy lắm. Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.”

(Dế Mèn phiêu lưu ký, Tô Hoài)

a. Tìm quan hệ từ có trong đoạn văn.

b. Tìm từ đồng nghĩa với “hãnh diện”

c. Tìm từ trái nghĩa với “to”, “dài”.

Câu 2. Dùng đại từ xưng hô để thay thế cho các từ bị lặp lại:

Ha-li-ma lấy chồng được hai năm. Trước khi cưới, chồng Ha-li-ma là một người dễ mến, lúc nào cũng tươi cười. Vậy mà giờ đây, chỉ thấy chồng Ha-li-ma cau có, gắt gỏng. Không biết làm thế nào, Ha-li-ma đến nhờ vị giáo sĩ già trong vùng giúp đỡ.

(Thuần phục sư tử, Tiếng Việt 5, tập 2)

Câu 3. Dùng các từ dưới đây để đặt câu (một câu theo nghĩa gốc, một câu theo nghĩa chuyển)

a. ăn

b. bay

c. mũi

d. ngọt

Câu 4. Viết bài văn tả cảnh cơn mưa, trong đó có sử dụng một câu ghép.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 8

Câu 1. Cho bài thơ sau:

Đêm nay bên bến Ô Lâu
Cháu ngồi cháu nhớ chòm râu Bác Hồ
Nhớ hình Bác giữa bóng cờ
Hồng hào đôi má, bạc phơ mái đầu
Mắt hiền sáng tựa vì sao
Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời
Nhớ khi trăng sáng đầy trời
Trung thu Bác gửi những lời vào thăm
Đêm đêm cháu những bâng khuâng
Giở xem ảnh Bác cất thầm bấy lâu
Nhìn mắt sáng, nhìn chòm râu
Nhìn vầng trán rộng, nhìn đầu bạc phơ
Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ
Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn.

(Cháu nhớ Bác Hồ, Thanh Hải)

1. Bạn nhỏ trong bài thơ đã nhớ đến ai?

A. Người mẹ

B. Bác Hồ

C. Ông nội

2. Bác được miêu tả qua?

A. đôi má, mái đầu, đôi mắt, chòm râu

B. chòm râu, mái đầu, đôi má

C. mái đầu, đôi má, đôi mắt

3. Đôi mắt của Bác được so sánh với?

A. viên kim cương

B. vì sao

C. mặt trời

4. Bài thơ thể hiện điều gì?

A. Tình cảm yêu mến, kính trọng đối với Bác Hồ.

B. Tình cảm yêu mến, tự hào đối với người mẹ.

C. Cả 2 đáp án trên.

Câu 2. Tìm từ đồng nghĩa với các từ sau:

a. hổ

b. bát

c. bố

d. mẹ

Câu 3. Đặt dấu câu thích hợp vào chỗ trống:

Một hôm, trên đường đi học về, Hùng ... Quý và Nam trao đổi với nhau xem ở trên đời này, cái gì quý nhất.

Hùng nói ... “Theo tớ, quý nhất là lúa gạo ... Các cậu có thấy ai không ăn mà sống được không ..."

Quý và Nam cho là có lí ... Nhưng đi được mươi bước. Quý vội reo lên: ... Bạn Hùng nói không đúng ... Quý nhất phải là vàng. Mọi người chẳng thường nói quý như vàng là gì ... Có vàng là có tiền, có tiền sẽ mua được lúa gạo! ...

Nam vội tiếp ngay: “Quý nhất là thì giờ. Thầy giáo thường nói thì giờ quý hơn vàng bạc. Có thì giờ mới làm ra được lúa gạo ... vàng bạc!”

(Cái gì quý nhất, Tiếng Việt lớp 5, tập 1)

Câu 4. Tả một đêm trăng đẹp.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 9

Câu 1. Cho đoạn văn:

Một lần khác, có người phụ nữ được ông cho thuốc và giảm bệnh. Nhưng rồi bệnh tái phát, người chồng đến xin đơn thuốc mới. Lúc ấy, trời đã khuya nên Lãn Ông hẹn hôm sau đến khám kĩ mới cho thuốc. Hôm sau ông đến thì được tin người chồng đã lấy thuốc khác, nhưng không cứu được vợ. Lãn Ông rất hối hận. Ông ghi trong sổ thuốc của mình “Xét về việc thì người bệnh chết do tay thầy thuốc khác, song về tình thì tôi như mắc phải tội giết người. Càng nghĩ càng hối hận.”

(Thầy thuốc như mẹ hiền, Tiếng Việt 5, tập 1)

Tìm ba danh từ, động từ, tính từ có trong đoạn văn trên.

Câu 2. Tìm các cặp từ trái nghĩa trong các câu:

a. Khôn nhà dại chợ

b. Bán anh em xa mua láng giềng gần

c. Chân cứng đá mềm

d. Trẻ chẳng tha, già chẳng thương

e. Kính trên nhường dưới…

Câu 3. Đặt câu hỏi theo mẫu:

a. Ở đâu?

b. Ai như thế nào?

c. Để làm gì?

Câu 4. Tả con đường từ nhà đến trường của em.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 10

Câu 1. Điền các từ trái nghĩa thích hợp vào các thành ngữ sau:

- Chân cứng đá ...

- Gần nhà ... ngõ

- Mắt nhắm mắt ...

- Vô thưởng vô ...

- Bước thấp bước ...

- Chân ướt chân …

Câu 2. Tìm các quan hệ từ có trong câu dưới đây:

a. Rừng say ngây và ấm nóng.

b. Tiếng hát của Chi khiến mọi người say mê.

c. Về bài tập này, Lan đã tìm ra lời giải.

d. Lan chăm chỉ học bài nhưng kết quả không được tốt.

Câu 3. Sắp xếp các từ sau vào hai nhóm từ ghép và từ láy: hoa mai, lung linh, lấp ló, xanh xanh, chạy nhảy, rung rinh, bàn ghế, ca hát, máy bay, lo lắng, xinh đẹp, con gà, xe đạp, nhà cửa, vườn cây, bầu trời, mênh mông, mù mịt, mơ màng, núi rừng.

Câu 4. Tả bác nông dân đang gặt lúa, trong đó có một câu sử dụng đại từ.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 11

Câu 1. Tìm từ đồng âm với các từ sau:

- chín

- cuốc

- rắn

- đường

Câu 2. Cho bài thơ sau:

“Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha!
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

(Đất nước, Nguyễn Đình Thi)

a. Tìm các danh từ có trong bài thơ.

b. Đặt câu với hai danh từ vừa tìm được.

Câu 3. Xác định thành phần câu:

a. Dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa.

b. Trên đường, xe cộ đi lại tấp nập.

c. Dì Năm đấu trí với bọn địch rất khôn khéo để bảo vệ chú cán bộ.

d. Hôm nay, con đường vốn quen thuộc bỗng trở nên thật xa lạ.

Câu 4. Kể lại chuyện đi tham quan mà em nhớ nhất.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 12

Câu 1. Cho đoạn văn sau:

Khi Hi-rô-si-ma bị ném bom, cô bé Xa-xa-cô Xa-xa-ki mới hai tuổi đã may mắn thoát nạn. Nhưng em bị nhiễm phóng xạ. Mười năm sau, em lâm bệnh nặng. Nằm trong bệnh viện nhẩm đếm từng ngày còn lại của đời mình, cô bé ngây thơ tin vào một truyền thuyết nói rằng nếu gấp đủ một nghìn con sếu bằng giấy treo quanh phòng, em sẽ khỏi bệnh. Em liền lặng lẽ gấp sếu. Biết chuyện, trẻ em toàn nước Nhật và nhiều nơi trên thế giới đã tới tấp gửi hàng nghìn con sếu giấy đến cho Xa-xa-cô. Nhưng Xa-xa-cô chết khi em mới gấp được 644 con.

(Những con sếu bằng giấy, Tiếng Việt 5, tập 1)

1. Hi-rô-si-ma là thành phố của đất nước nào?

A. Nhật Bản

B. Hàn Quốc

C. Thái Lan

2. Nhân vật trong đoạn văn tên là gì?

A. Naruto

B. Sakura

C. Xa-xa-cô Xa-xa-ki

3. Vì sao Xa-xa-cô bị mắc bệnh?

A. Do Xa-xa-cô bị nhiễm phóng xạ.

B. Do Xa-xa-cô bị tai nạn.

C. Cả 2 đáp án trên

4. Câu chuyện trên có ý nghĩa gì?

A. Sự tàn bạo, tang thương của chiến tranh.

B. Khát vọng sống, khát vọng hòa bình của trẻ em toàn thế giới.

C. Cả 2 đáp án trên

Câu 2. Tìm các từ trái nghĩa với các từ sau: mờ, nhanh, cao, sáng, vui, lớn, yêu, nóng, ngoài, xa, dưới, còn, dở, xinh.

Câu 3. Đặt câu với các từ: tiếng sóng, mênh mông.

Câu 4. Tả một nghệ sĩ hài mà em yêu thích.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 13

Câu 1. Điền dấu câu thích hợp vào chỗ trống:

Sáng hôm ấy () ba về thăm bà nội ốm. Chiều đến, em đi loanh quanh theo lối ba vẫn đi tuần rừng. Phát hiện những dấu chân người lớn hằn trên đất, em thắc mắc: () Hai ngày nay đâu có đoàn khách tham quan nào? () Thấy lạ, em lần theo dấu chân. Khoảng hơn chục cây to cộ đã bị chặt thành từng khúc dài. Gần đó có tiếng bàn bạc ()

- Mày đã dặn lão Sáu Bơ tối đánh xe ra bìa rừng chưa ()

Qua khe lá, em thấy hai gã trộm. Lừa khi hai gã mải cột các khúc gỗ, em lén chạy. Em chạy theo đường tắt về quán bà Hai () xin bà cho gọi điện thoại. Một giọng nói rắn rỏi vang lên ở đầu dây bên kia ()

- A lô () Công an huyện đây ()

Sau khi nghe em báo tin có bọn trộm gỗ () các chú công an dặn dò em cách phối hợp với các chú để bắt bọn trộm, thu lại gỗ ()

(Người gác rừng tí hon, Tiếng Việt 5, tập 1)

Câu 2. Sắp xếp các từ sau vào hai nhóm từ ghép và từ láy: con gà, mênh mông, mong manh, điện thoại, xe máy, lặng lẽ, vui vẻ, bàn tay, chăm chỉ, kính mắt, hộp sữa, bàn ghế, khúc khuỷu, thăm thẳm, xa xôi, con cò, khóc lóc, nhớ nhung, ăn uống, sách vở.

Câu 3. Điền từ thích hợp vào chỗ trống:

a. … điện thoại bị hỏng … em không thể gọi điện cho mẹ.

b. Chúng em đã học bài … vẫn không được điểm cao.

c. Thanh … ngoan ngoãn … rất hiền lành.

d. Anh ấy … học bài, … nghe nhạc.

e. Quốc càng làm…, Hồng lại phá …

g. Ban nãy, nắng … chóng chang, mà bây giờ trời … âm u.

Câu 4. Tả cảnh thanh bình ở một miền quê, hoặc thành phố trong đó có sử dụng một câu ghép.

 

Bài tập ôn hè môn Tiếng Việt lớp 5 - Đề số 14

Câu 1. Đọc và trả lời câu hỏi:

Phụ nữ Việt Nam xưa hay mặc áo lối mớ ba, mớ bảy, tức là mặc nhiều áo cánh lồng vào nhau. Tuy nhiên, với phong cách tế nhị, kín đáo, người phụ nữ Việt thường mặc chiếc áo dài thẫm màu bên ngoài, lấp ló bên trong mới là các lớp áo cánh nhiều màu (vàng mỡ gà, vàng chanh, hồng cánh sen, hồng đào, xanh hồ thủy…)

Từ đầu thế kỉ XIX đến sau năm 1945, ở một số vùng, người ta mặc áo dài kể cả khi lao động nặng nhọc. Áo dài phụ nữ có hai loại: áo tứ thân và áo năm thân. Phổ biến hơn là áo tứ thân, được may từ bốn mảnh vải, hai mảnh sau ghép liền ở giữa sống lưng. Đằng trước là hai vạt áo, không có khuy, khi mặc bỏ buông hoặc buộc thắt vào nhau. Áo năm thân cũng may như áo tứ thân, chỉ có điều vạt trước phía trái may ghép từ hai thân vải, thành ra rộng gấp đôi vạt phải.

Từ những năm 30 của thế kỉ XX, chiếc áo dài cổ truyền được cải tiến dần thành chiếc áo tân thời. Chiếc áo tân thời là sự kết hợp hài hòa giữa phong cách dân tộc tế nhị, kín đáo với phong cách phương Tây hiện đại, trẻ trung.

Áo dài trở thành biểu tượng cho y phục truyền thống của Việt Nam. Trong tà áo dài, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam như đẹp hơn, tự nhiên, mềm mại và thanh thoát hơn.

(Tà áo dài Việt Nam, SGK Tiếng Việt 5, tập 2)

1. Áo dài phụ nữ có những loại nào?

A. áo tứ thân

B. áo năm thân

C. Cả 2 đáp án trên

2. Áo dài tứ thân được may từ mấy mảnh vải?

A. 4

B. 5

C. 6

3. Khi nào chiếc áo dài cổ truyền được cải tiến dần thành áo dài tân thời?

A. Những năm 20 của thế kỉ XX

B. Những năm 30 của thế kỉ XX

C. Những năm 40 của thế kỉ XX

4. Trong trang phục áo dài, người phụ nữ Việt Nam như thế nào?

A. đẹp hơn, tự nhiên hơn

B. mềm mại và thanh thoát hơn

C. Cả 2 đáp án trên

Câu 2. Điền các quan hệ từ thích hợp vào chỗ trống:

a. … An chăm chỉ học tập … kết quả học tập rất tốt.

b. Bình đã cố gắng hết sức… không chiến thắng trong cuộc thi.

c. Hàng ngày, em cùng với An đến trường … chiếc xe đạp này.

d. … câu hỏi rất khó … các bạn học sinh vẫn trả lời được.

e. Hoàng … Long là hai thành viên tiêu biểu của đội bóng.

Câu 3. Xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển:

- Lưng (1): Phần phía sau của cơ thể người hoặc phần phía trên của cơ thể động vật có xương sống, đối xứng với ngực và bụng (cái lưng).

- Lưng (2): bộ phận phía sau của một số vật (lưng ghế).

Tìm các ví dụ tương tự cho nghĩa chuyển.

Câu 4. Viết một đoạn văn tả cánh đồng quê sau cơn mưa, trong đó có một câu sử dụng trạng ngữ chỉ nơi chốn.

 

4. Hướng dẫn phương pháp tự học và ôn tập Tiếng Việt hiệu quả tại nhà

Việc ôn tập hè chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi học sinh có phương pháp học phù hợp và duy trì được thói quen học tập đều đặn. Theo định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, quá trình tự học cần hướng đến việc phát triển năng lực đọc, viết, nói và nghe thông qua các hoạt động thực hành thường xuyên thay vì học thuộc kiến thức một cách máy móc.

Duy trì thói quen đọc sách mỗi ngày

Đọc sách là hoạt động quan trọng giúp mở rộng vốn từ, nâng cao khả năng đọc hiểu và hình thành tư duy ngôn ngữ. Học sinh nên dành khoảng 20–30 phút mỗi ngày để đọc các văn bản văn học, truyện thiếu nhi, thơ, sách khoa học phổ thông hoặc các bài viết giới thiệu về thiên nhiên, lịch sử, văn hóa.

Trong quá trình đọc, các em nên thực hiện theo trình tự sau:

  • Đọc lướt để xác định chủ đề của văn bản.
  • Đọc kỹ từng đoạn và gạch chân những từ ngữ quan trọng.
  • Ghi lại những từ mới để tra từ điển Tiếng Việt.
  • Tóm tắt nội dung bằng lời văn của mình.
  • Nêu cảm nghĩ hoặc bài học rút ra sau khi đọc.

Có thể chuẩn bị một cuốn sổ nhỏ làm nhật ký đọc sách, ghi lại tên tác phẩm, tác giả, nội dung chính, nhân vật yêu thích và những điều bản thân học được. Cách làm này vừa giúp ghi nhớ kiến thức vừa rèn luyện kỹ năng diễn đạt.

Hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy

Những kiến thức về từ loại, cấu tạo từ, câu và biện pháp tu từ sẽ dễ ghi nhớ hơn nếu được trình bày dưới dạng sơ đồ tư duy.

Học sinh có thể xây dựng sơ đồ cho từng chuyên đề như:

  • Từ đơn, từ ghép, từ láy.
  • Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
  • Đại từ và quan hệ từ.
  • Chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ.
  • Câu đơn và câu ghép.
  • So sánh, nhân hóa, điệp từ.

Việc tự tay vẽ sơ đồ sẽ giúp học sinh nhìn thấy mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức, từ đó ghi nhớ lâu hơn và dễ vận dụng vào bài tập.

Luyện viết theo đúng quy trình tạo lập văn bản

Một trong những nguyên nhân khiến học sinh viết văn còn lúng túng là viết ngay khi đọc đề mà chưa chuẩn bị ý tưởng.

Để khắc phục tình trạng này, nên thực hiện đầy đủ bốn bước:

Bước 1. Xác định yêu cầu đề bài

Đọc kỹ đề để xác định:

  • Viết về ai hoặc về điều gì.
  • Thuộc kiểu bài nào.
  • Cần bộc lộ cảm xúc hay kể sự việc.
  • Đối tượng miêu tả là người, cảnh vật hay con vật.

Bước 2. Tìm ý và lập dàn ý

Liệt kê các ý chính theo trình tự hợp lý rồi sắp xếp thành ba phần:

  • Mở bài.
  • Thân bài.
  • Kết bài.

Bước 3. Viết bài

Từ dàn ý đã lập, phát triển thành các đoạn văn hoàn chỉnh. Trong quá trình viết cần sử dụng từ ngữ gợi tả, hình ảnh so sánh hoặc nhân hóa phù hợp để bài văn sinh động hơn.

Bước 4. Đọc lại và chỉnh sửa

Sau khi hoàn thành bài viết, học sinh cần đọc lại toàn bộ bài để phát hiện và sửa các lỗi:

  • Sai chính tả.
  • Dùng từ chưa phù hợp.
  • Câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ.
  • Câu quá dài, diễn đạt khó hiểu.
  • Các đoạn chưa liên kết với nhau.

Luyện đọc hiểu theo hướng phát triển năng lực

Khi làm bài đọc hiểu, học sinh không nên trả lời theo cảm tính mà cần thực hiện theo các bước:

  • Đọc toàn bộ văn bản để hiểu nội dung chung.
  • Đọc từng câu hỏi trước khi tìm đáp án.
  • Gạch chân chi tiết liên quan.
  • Phân biệt câu hỏi nhận biết, thông hiểu và vận dụng.
  • Trả lời bằng câu văn đầy đủ, rõ ý.

Việc luyện đọc nhiều loại văn bản khác nhau sẽ giúp học sinh thích nghi với dạng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa thường xuất hiện trong các bài kiểm tra theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Xây dựng kế hoạch ôn tập trong 6 tuần

Một kế hoạch ôn tập khoa học sẽ giúp học sinh phân bổ thời gian hợp lý và tránh học dồn trước khi vào năm học mới.

Tuần 1

  • Ôn tập từ đơn, từ ghép, từ láy.
  • Đọc các bài văn miêu tả thiên nhiên.
  • Viết đoạn văn tả cảnh ngắn.

Tuần 2

  • Ôn từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa.
  • Luyện đọc hiểu văn bản văn học.
  • Viết bài văn tả cảnh hoàn chỉnh.

Tuần 3

  • Ôn đại từ, quan hệ từ và câu ghép.
  • Đọc văn bản thông tin.
  • Viết bài văn tả người.

Tuần 4

  • Ôn biện pháp so sánh, nhân hóa, điệp từ.
  • Luyện phân tích tác dụng của hình ảnh nghệ thuật.
  • Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ.

Tuần 5

  • Ôn thành phần câu và sửa lỗi câu.
  • Luyện đề đọc hiểu tổng hợp.
  • Viết bài kể lại một kỉ niệm đáng nhớ.

Tuần 6

  • Tổng ôn toàn bộ kiến thức.
  • Làm đề ôn tập tổng hợp.
  • Chữa lỗi và củng cố những nội dung còn yếu trước khi bước vào lớp 6

 

5. Những lưu ý cho phụ huynh khi hỗ trợ học sinh ôn tập Tiếng Việt trong dịp hè

Gia đình là môi trường học tập đầu tiên của mỗi học sinh. Trong dịp hè, sự đồng hành đúng cách của phụ huynh sẽ giúp các em duy trì động lực học tập, phát triển khả năng tự học và hình thành tình yêu đối với môn Tiếng Việt.

Đồng hành thay vì tạo áp lực

Nghỉ hè vẫn là khoảng thời gian để học sinh nghỉ ngơi, vui chơi và phát triển toàn diện. Vì vậy, phụ huynh không nên biến kỳ nghỉ thành một học kỳ thứ ba với lịch học quá dày đặc.

Thay vào đó, hãy xây dựng thời gian biểu cân đối giữa học tập, đọc sách, vận động thể chất và các hoạt động trải nghiệm.

Khuyến khích con đọc sách hằng ngày

Cha mẹ nên chuẩn bị cho con những đầu sách phù hợp với lứa tuổi như:

  • Truyện thiếu nhi.
  • Truyện cổ tích.
  • Thơ.
  • Sách khám phá khoa học.
  • Sách về lịch sử, địa lý Việt Nam.

Sau khi đọc, hãy trò chuyện cùng con về nội dung câu chuyện, nhân vật yêu thích hoặc bài học rút ra. Đây là cách tự nhiên để rèn luyện kỹ năng nói và nghe.

Không lạm dụng văn mẫu

Một trong những định hướng quan trọng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là phát triển khả năng sáng tạo và tư duy độc lập của học sinh.

Vì vậy, phụ huynh không nên yêu cầu con học thuộc hoặc chép lại các bài văn mẫu.

Nếu bài viết của con còn nhiều hạn chế, hãy hướng dẫn:

  • Quan sát kỹ đối tượng.
  • Tự tìm ý.
  • Tự diễn đạt bằng lời văn của mình.
  • Chỉnh sửa từng lỗi sau khi viết.

Cách làm này giúp học sinh tiến bộ bền vững hơn nhiều so với việc học thuộc các bài viết có sẵn.

Tạo cơ hội cho con trải nghiệm thực tế

Những chuyến đi về quê, tham quan bảo tàng, công viên, danh lam thắng cảnh hoặc các hoạt động lao động hằng ngày đều là nguồn tư liệu quý cho các bài văn miêu tả và kể chuyện.

Phụ huynh nên hướng dẫn con:

  • Quan sát màu sắc, âm thanh và hình ảnh.
  • Ghi lại những điều thú vị.
  • Chia sẻ cảm xúc sau mỗi trải nghiệm.

Những vốn sống này sẽ giúp bài văn của học sinh chân thực và giàu cảm xúc hơn.

Hướng dẫn con sử dụng từ điển

Thay vì giải thích ngay mọi từ khó, phụ huynh nên hướng dẫn con tra từ điển Tiếng Việt để tìm hiểu nghĩa của từ, cách sử dụng và ví dụ minh họa.

Thói quen này giúp học sinh hình thành năng lực tự học và mở rộng vốn từ một cách chủ động.

Đánh giá sự tiến bộ thay vì chỉ quan tâm điểm số

Điều quan trọng nhất trong quá trình ôn hè không phải là làm được thật nhiều bài tập mà là sự tiến bộ từng ngày.

Phụ huynh có thể ghi nhận sự phát triển của con thông qua:

  • Đọc lưu loát hơn.
  • Viết ít lỗi chính tả hơn.
  • Vốn từ phong phú hơn.
  • Diễn đạt mạch lạc hơn.
  • Chủ động học tập và hoàn thành nhiệm vụ đúng kế hoạch.

Sự động viên kịp thời sẽ tạo động lực để học sinh duy trì hứng thú học tập trong suốt kỳ nghỉ hè.

 

6. Câu hỏi thường gặp về lộ trình ôn luyện Tiếng Việt lớp 5

Học sinh lớp 5 có cần ôn tập Tiếng Việt trong suốt kỳ nghỉ hè không?

Có. Tuy nhiên, việc ôn tập nên được thực hiện với cường độ vừa phải, duy trì đều đặn mỗi ngày khoảng 30–60 phút. Học đều mỗi ngày sẽ hiệu quả hơn học dồn trong thời gian ngắn.

Có nên học trước toàn bộ chương trình Ngữ văn lớp 6 không?

Không nên học trước toàn bộ nội dung của lớp 6. Học sinh chỉ nên đọc trước một số văn bản trong sách giáo khoa để tạo hứng thú và làm quen với môi trường học tập mới. Trọng tâm của kỳ nghỉ hè vẫn là củng cố chắc kiến thức và kỹ năng của lớp 5.

Những nội dung nào cần ưu tiên ôn tập?

Học sinh nên ưu tiên ba nhóm kiến thức chính:

  • Luyện từ và câu.
  • Đọc hiểu văn bản.
  • Tập làm văn.

Đây là những nội dung nền tảng giúp học sinh học tốt môn Ngữ văn ở lớp 6.

Làm thế nào để cải thiện kỹ năng viết văn?

Muốn viết tốt, học sinh cần quan sát nhiều hơn, đọc sách thường xuyên, tích lũy vốn từ và thực hiện đầy đủ các bước: tìm ý, lập dàn ý, viết bài và tự chỉnh sửa. Việc luyện viết đều đặn mỗi tuần từ một đến hai bài sẽ giúp khả năng diễn đạt tiến bộ rõ rệt.

Làm sao để khắc phục tình trạng viết câu sai ngữ pháp hoặc diễn đạt lan man?

Học sinh cần rèn luyện kỹ năng xác định chủ ngữ, vị ngữ và các thành phần phụ của câu trước khi viết. Sau khi hoàn thành bài viết, nên đọc lại thành tiếng để phát hiện những câu chưa mạch lạc hoặc dùng từ chưa phù hợp.

Chuẩn đọc của học sinh cuối cấp tiểu học là gì?

Theo định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, học sinh hoàn thành lớp 5 cần đọc thành tiếng lưu loát với tốc độ khoảng 70–80 tiếng mỗi phút, đọc hiểu được cả văn bản văn học và văn bản thông tin, nhận biết được nội dung chính, chi tiết quan trọng, biện pháp tu từ và bước đầu suy luận được ý nghĩa của văn bản.

Làm thế nào để duy trì hứng thú học Tiếng Việt trong dịp hè?

Học sinh nên kết hợp việc học với các hoạt động gần gũi như đọc truyện, viết nhật ký, kể chuyện, tham quan thực tế, quan sát thiên nhiên và trao đổi với người thân về những điều đã học. Khi việc học gắn với trải nghiệm thực tế, các em sẽ cảm thấy nhẹ nhàng, hứng thú và tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên hơn.

Quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm các bài tập ôn hè lớp 5 lên lớp 6 khác như: