1. Nội dung bài thơ Hầu trời - Tản Đà
Hầu trời
Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thế!
Thật được lên tiên - sướng lạ lùng.
Nguyên lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn.
Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống
Miệng cười tủm tỉm cùng nói rằng:
- "Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà!
Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua.”
Ước mãi bây giờ mới gặp tiên!
Người tiên nghe tiếng lại như quen!
Văn chương nào có hay cho lắm
Trời đã sai gọi thời phải lên.
Theo hai cô tiên lên đường mây
Vù vù không cánh mà như bay.
Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ
Thiên môn đế khuyết như là đây!
Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy
Trời sai tiên nữ dắt lôi dâ.y.
Ghế bành như tuyết vân như mây
Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy.
Chư tiên ngồi quanh đã tĩnh túc
Trời sai pha nước để nhấp giọng.
Truyền cho "văn sĩ đọc văn nghe!"
- "Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc".
Đọc hết văn vần lại văn xuôi
Hết văn thuyết lý lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.
Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay,
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay.
- "Bẩm con không dám man cửa Trời
Những áng văn con in cả rồi
Hai quyển Khối tình văn thuyết lý
Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
Đài gương, Lên sáu văn vị đời
Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
Đến quyển Lên tám nay là mười
Nhờ Trời văn con còn bán được
Chử biết con in ra mấy mươi?”
Văn đã giàu thay, lại lắm lối
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!
Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
- “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”
Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!”
Văn trần được thế chắc có ít!
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng! Tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!
Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?
Người ở phương nào, ta chưa biết".
- “Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á Châu và Địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”.
Nghe xong Trời ngợ một lúc lâu
Sai bảo thiên tào lấy sổ xét.
Thiên tào tra sổ xét vừa xong
Đệ sổ lên trình Thượng đế trông
- “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đày xuống hạ giới vì tội ngông.”
Trời rằng: “Không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc “thiên lương” của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay.”
- “Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó
Trần gian thước đất cũng không có
Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó.
Giấy người mực người thuê người in
Mướn cửa hàng người bán phường phố.
Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu
Lo ăn lo mặc hết ngày tháng
Học ngày một kém tuổi ngày cao
Sức trong non yếu ngoài chen rấp
Một cây che chống bốn năm chiều.
Trời lại sai con việc nặng quá
Biết làm có được mà dám theo.”
Rằng: “Con không nói Trời đã biết
Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết
Thôi con cứ về mà làm ăn
Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!”
Vâng nhời Trời dạy, lạy xin ra
Trời sai Khiên Ngưu đóng xe tiễn
Xe trời đã chực ngoài thiên môn
Chư tiên theo ra cùng tiễn biệt.
Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi
Trông xuống trần gian vạn dặm khơi.
Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống
Theo đường không khí về trần ai.
Đêm khuya khí thanh sao thưa vắng
Trăng tà đưa lối về non Đoài.
Non Đoài đã tới quê trần giới,
Trông lên chư tiên không còn ai.
Tiếng gà xao xác, tiếng người dậy
Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi
Một năm ba trăm sáu mươi đêm
Sao được mỗi đêm lên hầu Trời.
Tản Đà
2. Vài nét về tác giả Tản Đà
Tản Đà, tên khi sinh là Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử văn học Việt Nam, sống và sáng tạo trong giai đoạn đặc biệt của xã hội và văn hóa Việt Nam, thời điểm mà sự giao thoa giữa truyền thống Hán học và sự đổ bộ của nền văn hóa Tây phương đang diễn ra mạnh mẽ.
Lịch sử đã đặt Tản Đà vào một bối cảnh đặc biệt, khi Hán học, một trụ cột trí thức từ hàng thế kỷ, đang dần trôi nổi vào quên lãng, và văn hóa Tây mới chỉ mới bắt đầu chạm vào bờ cửa Việt Nam. Tại thời điểm này, con người Tản Đà, bên cạnh việc theo đuổi học vấn, cũng phải đối mặt với sự thay đổi lớn trong lối sống và sự nghiệp văn chương của mình. Điều này tạo nên một cuộc hòa trộn văn hóa và tinh thần độc đáo, và Tản Đà đã trở thành một biểu tượng của sự hòa hợp này.
Tản Đà bắt đầu học Hán học từ khi còn rất nhỏ, nhưng sau hai kỳ thi Hương, ông đã đưa ra quyết định đột ngột - bỏ cuộc trong cuộc đua học vấn của Hán học để tập trung vào viết sáng tạo bằng chữ quốc ngữ. Quyết định này không chỉ thể hiện sự linh hoạt và sáng tạo của ông mà còn phản ánh khả năng thích nghi của một tâm hồn nhạy bén với những thay đổi xã hội và văn hóa đang diễn ra xung quanh. Tản Đà đã tỏa sáng trong văn chương tiếng Việt, để lại dấu ấn sâu sắc và không thể nào quên trong lòng người đọc. Công trình văn học của ông đã làm phong phú thêm bộ mặt văn học Việt Nam và truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ về tinh thần đổi mới và sáng tạo.
Phong cách nghệ thuật của Tản Đà được biểu hiện thông qua một sự kết hợp độc đáo và mới mẻ của điệu tâm hồn. Điều này thể hiện rõ sự bay bổng và lãng mạn của bản thân ông, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự phóng khoáng và ngông nghênh, kết hợp với khả năng đồng cảm và ưu ái đối với con người và thế giới xung quanh. Tản Đà không chỉ đơn thuần là một người lưu giữ và phục hồi nguồn thơ ca dân gian và dân tộc, mà còn là một tài hoa sáng tạo với những ý tưởng và phong cách độc đáo. Trong tác phẩm của ông, ta có thể thấy sự kết hợp tài tình giữa việc tìm về ngọn nguồn của văn hóa dân gian và sự đột phá, đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật.
Thơ văn của Tản Đà không chỉ đơn thuần là một dòng nghệ thuật độc lập mà còn có vai trò quan trọng như một "gạch nối" giữa hai giai đoạn văn học quan trọng của dân tộc: thời kỳ trung đại và thời kỳ hiện đại. Ông là một cầu nối giữa những truyền thống văn hóa cổ điển và những tầm nhìn mới mẻ của thế kỷ XX, đóng góp quan trọng vào sự phát triển và thay đổi của văn học Việt Nam. Tản Đà không chỉ để lại những tác phẩm vĩ đại mà còn để lại một di sản vô giá, là nguồn cảm hứng cho thế hệ sau về tinh thần sáng tạo và khao khát thấu hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa dân tộc.
3. Khái quát về tác phẩm - bài thơ Hầu trời
- Xuất Xứ: Bài thơ này được xuất bản vào năm 1921 trong tập thơ mang tên "Còn chơi."
- Bố Cục:
Bài thơ này được chia thành ba phần để kể một câu chuyện hấp dẫn và sâu sắc: Bố cục này giúp tạo nên một cấu trúc hấp dẫn và có sự phát triển của câu chuyện, đồng thời cũng tạo điểm nhấn cho tài năng và sự sâu sắc của thi nhân trong việc tạo ra một tác phẩm thơ độc đáo.
+ Phần 1 (từ đầu đến sướng lạ lùng): Ở phần này, người đọc sẽ được dẫn nhập vào câu chuyện, nơi mà tác giả giới thiệu về tình huống và bối cảnh của câu chuyện.
+ Phần 2 (tiếp đến anh gánh lên đây bán chợ trời): Trong phần này, thi nhân của câu chuyện thể hiện sự tài năng của mình khi đọc thơ cho Trời và các thần tiên, tạo nên một khung cảnh tượng hình đầy màu sắc và tinh tế.
+ Phần 3 (còn lại): Phần cuối cùng là nơi thi nhân tiếp tục cuộc trò chuyện với Trời, giúp thể hiện sự phát triển của câu chuyện và sự nối tiếp trong tình huống và tâm trạng của nhân vật chính.
- Giá trị nội dung: Thể hiện sự tỏa sáng của cái tôi cá nhân: Bài thơ này là một bức tranh sống động về sự phô trương và cái tôi mạnh mẽ của tác giả. Tác phẩm này không chỉ đơn thuần là việc thể hiện tính cách ngông ngạo và phóng túng, mà còn thể hiện sự tự tin và yêu thương về tài năng riêng, và tìm kiếm giá trị thực sự trong cuộc sống. Nó là sự thể hiện của sự khát khao vươn lên và được thừa nhận giữa cuộc hành trình của mỗi con người.
- Giá trị nghệ thuật: Sáng tạo nghệ thuật đa dạng. Bài thơ này sở hữu một loạt các yếu tố nghệ thuật độc đáo và đa dạng: Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do, tác giả đã sử dụng thể thơ thất ngôn trường thiên với sự tự do đáng kể, tạo cơ hội cho sự sáng tạo và thể hiện ý tưởng một cách tự nhiên và thoải mái. Giọng điệu thoải mái tự nhiên, bài thơ mang một giọng điệu tự nhiên và thoải mái, tạo nên một không gian thơ ca tự do và hóm hỉnh. Ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh, tác giả sử dụng ngôn ngữ giản dị và sống động để thể hiện ý tưởng và tạo hình nhân vật. Sự hóm hỉnh cũng được thể hiện qua ngôn từ, tạo nên một tác phẩm vui nhộn và cuốn hút. Tất cả những yếu tố này kết hợp lại tạo nên một tác phẩm nghệ thuật phong phú và đa chiều, đánh dấu sự sáng tạo độc đáo của tác giả trong việc thể hiện nội dung và ngôn ngữ trong bài thơ.
Ngoài ra, có thể tham khảo: Phân tích bài thơ Hầu Trời của Tản Đà chọn lọc hay nhất. Xin cảm ơn.