1. Bảo hiểm nhân thọ là gì?

Khoản 12 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định:

" Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết."

Như vậy, có thể hiểu Bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm được công ty bảo hiểm cung cấp nhằm bảo vệ người tham gia bảo hiểm trước rủi ro về sức khỏe, tính mạng bằng cách chi trả, bồi thường khi các sự kiện liên bảo hiểm xảy ra.

2. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ

Khoản 1 Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định:

" Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

a) Bảo hiểm trọn đời;

b) Bảo hiểm sinh kỳ;

c) Bảo hiểm tử kỳ;

d) Bảo hiểm hỗn hợp;

đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ;

e) Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định."​

Theo đó, các loại hình bảo hiểm được hiểu như sau:

- Bảo hiểm trọn đời

Bảo hiểm trọn đời là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó.

-Bảo hiểm sinh kỳ

Bảo hiểm sinh kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Trên thực tế, hầu hết các công ty bảo hiểm không triển khai loại hình bảo hiểm này.

- Bảo hiểm tử kỳ

Bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Để mang đến phạm vi bảo vệ rộng hơn, các công ty bảo hiểm đã bổ sung thêm các quyền lợi khác cho khách hàng tham gia sản phẩm này. Một số công ty bảo hiểm triển khai sản phẩm bảo hiểm tử kỳ theo hình thức là sản phẩm bổ trợ mua kèm sản phẩm chính.

- Bảo hiểm hỗn hợp

Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ. Ví dụ sản phẩm An Sinh Giáo Dục của Bảo Việt Nhân thọ.

- Bảo hiểm trả tiền định kỳ

Bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

- Bảo hiểm liên kết đầu tư

Bảo hiểm liên kết đầu tư là loại hình bảo hiểm có cơ cấu phí bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm được tách bạch giữa phần bảo hiểm rủi ro và phần đầu tư. Bên mua bảo hiểm được linh hoạt trong việc xác định phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Ví dụ sản phẩm bảo hiểm liên kết chung Hành Trình Hạnh Phúc của Manulife hay sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Đầu Tư Linh Hoạt của Prudential.

- Bảo hiểm hưu trí

Bảo hiểm hưu trí là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm đạt đến độ tuổi xác định được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

3. Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là ai?

- Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người.

- Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây:

+ Bản thân bên mua bảo hiểm;

+ Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;

+ Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng;

+ Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

4. Căn cứ trả tiền bảo hiểm tai nạn, sức khoẻ con người

- Trong bảo hiểm tai nạn con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

- Trong bảo hiểm sức khoẻ con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ của người được bảo hiểm do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

5. Thông báo tuổi trong bảo hiểm nhân thọ

- Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm.

- Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho bên mua bảo hiểm sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan. Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm.

- Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

+ Yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng;

+ Giảm số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng.

- Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm dẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm vượt trội đã đóng hoặc tăng số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng.

6. Đóng phí bảo hiểm nhân thọ

- Bên mua bảo hiểm có thể đóng phí bảo hiểm một lần hoặc nhiều lần theo thời hạn, phương thức thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

- Trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày, kể từ ngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hai năm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

- Trong trường hợp bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm từ hai năm trở lên mà doanh nghiệp bảo hiểm đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều này thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

- Các bên có thể thoả thuận khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm đã bị đơn phương đình chỉ thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này trong thời hạn hai năm, kể từ ngày bị đình chỉ và bên mua bảo hiểm đã đóng số phí bảo hiểm còn thiếu.

7. Trường hợp nào người sử dụng bảo hiểm nhân thọ không được trả tiền bảo hiểm

- Doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

+ Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn hai năm, kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm tiếp tục có hiệu lực;

+ Người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng;

+ Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình.

- Trong trường hợp một hoặc một số người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết hay thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

- Trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm hoặc toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan; nếu bên mua bảo hiểm chết thì số tiền trả lại được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm nhân thọ

Bảo vệ đối với rủi ro không lường trước

Rủi ro là điều không may mắn, không thể đoán trước được về thời gian, không gian cũng như mức độ nghiêm trọng, hậu quả của nó.

Rủi ro được bảo hiểm chi trả khi nó xảy ra ngẫu nhiên không lường trước được, không phải do cố ý của cá nhân hay tổ chức, không trái với chuẩn mực, đạo đức xã hội. Điều này cũng có nghĩa là những hành vi vi phạm pháp luật, cố ý tạo ra rủi ro sẽ không được bảo hiểm chi trả.

Ví dụ: Nếu khách hàng đã bị bệnh lý nghiêm trọng, đó là ung thư. Khi đó, rủi ro là có sẵn và việc tham gia bảo hiểm nhân thọ không được thực hiện. Ngoài ra, một số bệnh có thể vẫn được chấp nhận để tham gia bảo hiểm, song mức phí phụ trội sẽ cao hơn những khách hàng khỏe mạnh. Chính vì vậy, hãy tham gia bảo hiểm ngay khi còn có thể.

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo trách nhiệm, ý thức của người tham gia bảo hiểm đồng thời bảo vệ công ty bảo hiểm khỏi hành vi chuộc lợi, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh

Vừa được bảo vệ, vừa có tích lũy, đầu tư

Ngoài tính chất đặc trưng là bảo vệ trước các rủi ro trong cuộc sống, Bảo hiểm nhân thọ còn là một phương án tài chính có tính tích lũy, là kênh tiết kiệm dài hạn và cũng là kênh đầu tư có lãi suất.

Khi đóng phí bảo hiểm một cách đều đặn, liên tục và đầy đủ thời gian theo thỏa thuận, người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được khoản đáo hạn theo quy định của hợp đồng, thường được thể hiện trên bảng minh họa phí, với lãi suất hoặc lãi chia (nếu có).

Còn với bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm y tế, khi người tham gia đóng phí và không có rủi ro thì sẽ số tiền đóng phí sẽ bị mất đi, bởi hai loại hình bảo hiểm này không có giá trị tích lũy. Và đây cũng là một trong những quyền lợi ưu việt dành cho khách hàng khi tham gia bảo hiểm nhân thọ.

Với tính tích lũy, đầu tư hiệu quả bảo hiểm nhân thọ sẽ mang lại nguồn tài chính dự phòng đảm bảo cho cuộc sống, tạo sự an tâm, thảnh thơi khi về già hay xây dựng tương lai tươi sáng cho con. Lãi suất và lãi chia của Bảo Việt Nhân thọ trong những năm gần đây đều ở mức cao nhất trên thị trường.

Yêu cầu tính trung thực khi ký hợp đồng

Người tham gia bảo hiểm cần hoàn thiện Giấy yêu cầu bảo hiểm trong đó khai báo các yếu tố quan trọng khi tham gia bảo hiểm như trình trạng sức khỏe, nghề nghiệp, lối sống lành mạnh với rượu bia, thuốc lá trước khi hợp đồng được ký kết.

Nếu cố tính không khai báo chính xác thông tin, hợp đồng có thể bị hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ, khi đó quyền lợi của người tham gia sẽ bị ảnh hưởng.

Nguyên tắc khoán

Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, công ty căn cứ vào số tiền bảo hiểm của hợp đồng đã ký kết và các quy định đã thỏa thuận trong hợp đồng để trả tiền cho người thụ hưởng. Khoản tiền này mang tính chất thực hiện cam kết của hợp đồng theo mức khoán quy định.

Và trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, đối tượng để bảo hiểm là con người, mà tính mạng, sức khỏe, cuộc sống của con người thì không thể xác định được bằng tiền. Vì vậy, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, người tham gia và đơn vị bảo hiểm cần phải thỏa thuận trước số tiền chi trả tương ứng với mỗi sự kiện bảo hiểm. Và việc ấn định trước khoản tiền mà đơn vị bảo hiểm thực hiện chi trả cho người tham gia đó được gọi là nguyên tắc khoán.

Nguyên tắc về quỹ bảo hiểm

Khi tham gia bảo hiểm khách hàng sẽ thực hiện đóng phí định kỳ theo thỏa thuận trong hợp đồng, công ty bảo hiểm sẽ thực hiện chia số tiền đó vào các quỹ cơ bản sau:

+ Quỹ dự phòng: Quỹ này sẽ dùng để chi trả cho khách hàng không may gặp rủi ro liên quan tới sức khỏe, thân thể tính mạng như: tai nạn, bệnh lý, tử vong...Mức chi trả sẽ phụ thuộc vào các quy định cũng như quyền lợi sản phẩm theo hợp đồng đã ký của khách hàng.

+ Quỹ đầu tư: Công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ dùng một phần phí đóng để đầu tư sinh lời và thực hiện chia lãi cho khách hàng (áp dụng với những sản phẩm liên kết chung). Các đơn vị bảo hiểm sẽ lựa chọn những phương án đầu tư an toàn, đảm bảo như: mua trái phiếu chính phủ, gửi ngân hàng.. để cam kết mức lãi suất ổn định cho khách hàng.