1. Bị nhiễm HIV có được tạm đình chỉ chấp hành án không?
Thông tư liên tịch 03/2013/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BYT hướng dẫn về việc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho phạm nhân do Bộ Công an - Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Quốc phòng - Bộ Y tế ban hành có quy định như sau:
Khoản 1 của Điều 4 trong thông tư này quy định rằng, phạm nhân đang thụ án trong các trại giam, trại tạm giam, hoặc cơ quan thi hành án hình sự của Công an cấp huyện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù trong các tình huống sau:
- Phạm nhân mắc bệnh nặng đến mức không thể tiếp tục thụ án và tiếp tục chấp hành án tù có thể đe dọa tính mạng của họ. Do đó, cần phải tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để họ có điều kiện để điều trị bệnh, trừ trường hợp không có thân nhân hoặc không có nơi cư trú cố định.
Bệnh nặng theo quy định ở khoản này bao gồm các bệnh nguy hiểm như ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã phát triển thành giai đoạn AIDS và đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và tiên lượng tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu kết luận bằng văn bản là bệnh nguy hiểm đe dọa tính mạng;
- Phụ nữ phạm nhân đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi trong trại giam, trại tạm giam, hoặc cơ quan thi hành án hình sự của Công an cấp huyện, nếu họ bị xử phạt tù lần đầu và có nơi cư trú cố định;
- Phạm nhân đóng vai trò là người lao động duy nhất trong gia đình, và nếu họ tiếp tục thụ án thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt (không có nguồn thu nhập khác, không có người khác để chăm sóc và nuôi dưỡng người thân, bao gồm người già, trẻ em hoặc những người khác không có khả năng lao động trong gia đình), ngoại trừ trường hợp phạm nhân bị xử phạt tù về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội nghiêm trọng đặc biệt;
-Phạm nhân bị xử phạt tù về các tội ít nghiêm trọng và việc tạm đình chỉ chấp hành án tù là cần thiết để thực hiện nhiệm vụ công vụ.
Vì vậy, đối với người đang thụ án trong trại giam, điều kiện cần đạt để được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù là họ phải mắc bệnh HIV đã phát triển thành giai đoạn AIDS và có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và tiên lượng tử vong cao. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào quyết định của tòa án hoặc cơ quan thi hành án hình sự cụ thể
Tại Điều 10 của Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP, quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù trong trường hợp cụ thể như sau:
Đối với người đang chờ đưa đi chấp hành án phạt tù:
Người đã có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án đang ở trong trại tạm giam, nhà tạm giữ, hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và đang chờ đưa đi chấp hành án (người đang chờ đưa đi chấp hành án) có thể được đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù nếu họ đáp ứng các điều kiện cụ thể.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, và hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù sẽ được thực hiện tương tự như đối với phạm nhân đang thụ án tù tại trại tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.
Như vậy, theo quy định này, người đang chờ đưa đi chấp hành án phạt tù có thể được xem xét tạm đình chỉ chấp hành án tù nếu họ đáp ứng các điều kiện và quy trình quy định. Quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào quyết định của thẩm quyền cụ thể và quy trình được thực hiện giống như đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các cơ sở tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự của Công an cấp huyện.
2. Cơ quan nào có thẩm quyền tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
Cơ quan có thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, theo Điều 36 của Luật Thi hành án Hình sự 2019, bao gồm:
- Trại giam và trại tạm giam thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.
- Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh và cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
- Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.
Những cơ quan này có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xem xét và quyết định việc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Tòa án cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án sẽ tiến hành xem xét và quyết định liệu có tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hay không.
Trong trường hợp Tòa án không đồng ý tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án cần phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan đề nghị tạm đình chỉ, và phải nêu rõ lý do không chấp nhận.
Việc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm được áp dụng khi có kháng nghị về quyết định của cơ quan đề nghị tạm đình chỉ
Theo Điều 7 của Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP, quy định về việc thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, ta có các điểm sau:
Về Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù:
Bộ Công an quy định việc thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an và trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh.
Bộ Quốc phòng quy định việc thành lập Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng và cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Thành phần của Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù:
Thông tư không cung cấp thông tin cụ thể về thành phần của Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Thành phần này có thể được quy định bởi Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong các tài liệu và quy chế riêng biệt.
Như vậy, dựa vào Điều 7 của Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP, Hội đồng xét, đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù sẽ được thành lập bởi Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, tùy theo đơn vị quản lý trại giam hoặc trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Thành phần của Hội đồng này sẽ được quy định riêng bởi các cơ quan này và có thể khác nhau tùy theo địa điểm và ngữ cảnh cụ thể
3. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân nhiễm HIV có quy định về thẩm định, tuy nhiên, có một quy định đặc biệt cho trường hợp phạm nhân bị phạt tù từ 15 năm trở xuống và đang ở giai đoạn lâm sàng IV, đang có các nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân, có tiên lượng xấu, và nguy cơ tử vong cao. Cụ thể:
Thẩm định hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù:
Theo Điều 8 của Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP, trình tự và thủ tục lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được quy định.
Đối với phạm nhân bị phạt tù từ 15 năm trở xuống, bị nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng IV, có các nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân, có tiên lượng xấu và nguy cơ tử vong cao, cơ quan có thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù không cần phải thẩm định hồ sơ đề nghị như các trường hợp khác. Thay vào đó, hồ sơ được chuyển trực tiếp cho Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét và quyết định.
Thông báo cho Viện kiểm sát:
Đồng thời, hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân quy định tại điểm trên cũng phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để có sự kiểm tra và xem xét độc lập từ phía công tố viên.
Như vậy, trong trường hợp đặc biệt như phạm nhân bị phạt tù từ 15 năm trở xuống và đang ở giai đoạn lâm sàng IV của HIV, quy trình không đòi hỏi thẩm định hồ sơ đề nghị mà hồ sơ được trực tiếp gửi cho Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét và quyết định, với sự kiểm tra từ phía Viện kiểm sát
Trên đây là toàn bộ nội dung về "Bị nhiễm HIV có được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù không?". Nội dung chỉ mang tính chất tham khảo, nếu nội dung gây nhầm lẫn, sai sót khách hàng có thể 19006162 để được hỗ trợ