- 1. Biên bản phiên tòa lao động là gì?
- 2. Quy định pháp luật về biên bản phiên tòa lao động
- 3. Thủ tục khởi kiện vụ án lao động
- 3.1. Chủ thể có quyền khởi kiện vụ án lao động?
- 3.2. Những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
- 3.3. Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động:
- 3.4. Hồ sơ khởi kiện:
- 3.5. Án phí:
- 3.6. Thời hạn giải quyết:
- 4. Một số điểm mới về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
1. Biên bản phiên tòa lao động là gì?
Biên bản phiên tòa phản ánh mọi diễn biến của phiên tòa. Do đó, thư kí tòa án phải có mặt thường xuyên, liên tục tại phòng xử án để ghi biên bản. Biên bản phiên tòa là một trong những căn cứ quan trọng để viện kiểm sát, tòa án có thẩm quyền kiểm tra, kiểm sát lại việc xét xử của tòa án nên phải được ghi yào những tờ giấy riêng lưu vào trong hồ sơ vụ án.
Biên bản phiên tòa lao động là văn bản phản ánh diễn biến tố tụng tại phiên toà lao động do thư kí phiên toà lập, được chủ toạ phiên toà kí xác nhận.
Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà biên bản phiên tòa sẽ được viết theo quy định về biên bản phiên tòa theo quy định của pháp luật về dân sự và hình sự.
2. Quy định pháp luật về biên bản phiên tòa lao động
Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tạí khoản 1 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, hội đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.
Một biên bản phiên tòa phải có đầy đủ nội dung sau
Điều 236: Biên bản phiên tòa:
1.Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;
b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa;
c) Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên tòa.
2. Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.
3. Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký phiên tòa ký biên bản đó.
4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.
Nội dung của một biên bản phiên tòa sẽ phải có các nội dung chính có trong quyết định của bản án của vụ án được đem ra xét xử phải có bao gồm:
- Ngày, tháng, năm ra quyết định;
- Tên Tòa án ra quyết định;
- Vụ án được đưa ra xét xử;
- Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
-Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết (nếu có);
- Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
-Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
- Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
- Họ, tên người được triệu tập tham gia phiên tòa.
Ngoài ra thì nội dung biên bản cũng phải thể hiện được mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi phiên tòa bắt đầu đến khi kết thúc, các câu hỏi của luật sư, của thẩm phán, và các câu trả lời của nguyên đơn cũng như bị đơn phát biểu tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cũng có thể sử dụng hình thức ghi âm, ghi hình diễn biến phiên tòa không nhất thiết phải dùng hình thức duy nhất là ghi biên bản phiên tòa. Để đảm bảo nội dung của biên bản phiên tòa thì sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng thư ký phiên tòa ký vào biên bản này. Ngay sau kết thúc phiên tòa kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và lợi ích liên quan có quyền xem nội dung biên bản phiên tòa cũng như có yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung và biên bản tòa và ký xác nhận vào nội dung biên bản phiên tòa.
3. Thủ tục khởi kiện vụ án lao động
3.1. Chủ thể có quyền khởi kiện vụ án lao động?
- Người khởi kiện là người lao động:
Người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên có quyền tự mình khởi kiện; Nếu người khởi kiện dưới 15 tuổi ( Trong trường hợp tham gia quan hệ lao động) có quyền và lợi ích bị tranh chấp thì người khởi kiện phải thông qua người đại diện hợp pháp (cha mẹ, người giám hộ) để khởi kiện.
- Người khởi kiện là người sử dụng lao động
+ Nếu người sử dụng lao động là cá nhân thì phải đủ 18 tuổi trở lên;
+ Nếu người sử dung lao động là pháp nhân thì người khởi kiện là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Tổng giám đốc, giám đốc) hoặc là người được ủy quyền hợp pháp.
- Trong các vụ án tranh chấp lao động điều kiện hòa giải tại cơ sở là bắt buộc là điều kiện cần thiết trước khi tiến hành thủ tục khởi kiện tại Tòa án.
3.2. Những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ vào Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Điều 219 của Bộ luật Lao động 2019, những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm:
“1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại”
3.3. Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động:
- Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân: Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
- Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền:
Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp của mình bị vi phạm.
3.4. Hồ sơ khởi kiện:
- Đơn khởi kiện (theo mẫu) và các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện;
- Bản sao giấy chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu), Sổ hộ khẩu gia đình (có sao y bản chính);
- Các tài liệu liên quan đến quan hệ lao động như: Hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề, quyết định xử lý kỷ luật sa thải hoặc quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, biên bản họp xét kỷ luật người lao động,…
- Biên bản hoà giải không thành của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân (nếu có); Biên bản hòa giải không thành của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền (nếu có).
- Nếu người sử dụng lao động khởi kiện thì phải nộp thêm các giấy tờ tài liệu về tư cách pháp lý của doanh nghiệp như giấy phép đầu tư, giấy đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập doanh nghiệp; Điều lệ, nội quy lao động, biên bản họp xét kỷ luật người lao động,...
- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ số lượng bản chính, bản sao);
* Lưu ý: Các tài liệu nêu trên bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch sang tiếng Việt nam theo quy định trước khi nộp và nộp kèm theo bản gốc để đối
3.5. Án phí:
Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm đối với các vụ án lao động không có giá ngạch là 200.000 đồng
3.6. Thời hạn giải quyết:
- Thời hạn chuẩn bị xét xử từ 2 đến 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án
- Thời hạn mở phiên tòa từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
4. Một số điểm mới về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
BLLĐ 2019 cũng quy định có hai loại tranh chấp lao động gồm tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Tùy thuộc vào từng loại tranh chấp khác nhau mà quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định khác nhau. Liên quan đến thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, BLLĐ 2019 cũng có một số điểm mới so với quy định trước đây. Cụ thể:
* Đối với tranh chấp lao động cá nhân, BLLĐ 2019 đã bổ sung một số tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc qua thủ tục hòa giải của Hòa giải viên lao động. Theo đó, khoản 1, Điều 188 BLLĐ 2019 quy định Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải: Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại. Có thể thấy, so với quy định trước đây thì ngoài tranh chấp về “bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế”, BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm “bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động”. Ngoài ra, BLLĐ 2019 còn bổ sung thêm một tranh chấp lao động mới không qua thủ tục hòa giải là tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
* Đối với tranh chấp lao động tập thể, BLLĐ 2019 đã thay thế thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thành thẩm quyền của Hội đồng trọng tài lao động như đã trình bày ở trên. Bên cạnh đó, tương tự như quy định của BLLĐ trước đây, BLLĐ 2019 quy định các tranh chấp lao động tập thể đều phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Tuy nhiên, trong tranh chấp lao động về quyền thì khi một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành, hoặc hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải, hoặc trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.