1. Tính chất đặc trưng của hôn nhân công giáo

Hôn nhân công giáo là một khía cạnh quan trọng trong đạo Thiên Chúa giáo, được coi là một liên kết trang trọng và vĩnh cửu giữa hai người trong mắt Chúa. Tính chất đặc trưng của hôn nhân công giáo bao gồm:

  • Sự đoàn kết và tôn trọng: Hôn nhân công giáo yêu cầu sự đoàn kết giữa hai người, đồng thời tôn trọng và quan tâm đến nhau. Điều này đòi hỏi một mức độ sự cống hiến và sự hy sinh vì người kia.
  • Sự đoàn tụ trong tình yêu: Hôn nhân công giáo yêu cầu tình yêu và đoàn tụ giữa hai người. Tình yêu này cần được chia sẻ, đôi bên phải đồng tình với nhau, tôn trọng lẫn nhau và hỗ trợ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh.
  • Trách nhiệm chung: Hôn nhân công giáo yêu cầu sự chia sẻ trách nhiệm chung giữa hai người. Điều này bao gồm trách nhiệm chăm sóc và nuôi dưỡng gia đình, đưa ra những quyết định quan trọng cho gia đình, cùng nhau xây dựng và phát triển tình yêu và sự đoàn kết trong hôn nhân.
  • Sự tôn trọng đời sống gia đình: Hôn nhân công giáo yêu cầu sự tôn trọng đời sống gia đình và tôn trọng những giá trị tôn giáo của gia đình. Họ cần chia sẻ và phát triển các giá trị này với nhau và truyền dạy cho con cái.
  • Sự tôn trọng quy tắc của Giáo Hội: Hôn nhân công giáo yêu cầu sự tôn trọng và tuân thủ quy tắc của Giáo Hội. Điều này bao gồm tham gia vào các nghi thức tôn giáo, hưởng ứng các nguyện vọng của Giáo Hội, và sống theo đạo lý Công giáo.

Đối với những người theo đạo Công giáo, họ đã được học tập và truyền đạt về những quy định trong đạo Công giáo. Đặc biệt trong vấn đề kết hôn, có hai đặc tính cơ bản nhất của hôn nhân Công giáo là đơn thuần (một vợ một chồng) và vĩnh cửu, được thể hiện qua câu Kinh Thánh thường được dùng:

“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly."

Hôn nhân Công giáo được gọi là Bí tích Hôn phối, đây là sự tác hợp vợ chồng giữa một người đàn ông và một người phụ nữ thông qua quyền lực tôn giáo. Theo quan điểm tôn giáo, sự tác hợp trong hôn nhân Công giáo là duy nhất và vĩnh cửu suốt cuộc đời mỗi người.

 

2. Hôn nhân khác tôn giáo là gì?

Hôn nhân khác tôn giáo là hôn nhân giữa hai người có đạo hoặc tôn giáo khác nhau. Trong hôn nhân này, hai người có thể có quan điểm, giá trị và thực hành tôn giáo khác nhau. Hôn nhân khác tôn giáo có thể đem lại những thách thức và khó khăn đối với vợ chồng, nhưng cũng có thể mang lại sự đa dạng và cảm nhận được những trải nghiệm mới trong cuộc sống. Để có được một mối quan hệ hạnh phúc, hai người trong hôn nhân khác tôn giáo cần có sự tôn trọng, lẫn nhau hiểu biết, linh hoạt và sẵn sàng thương lượng để tìm ra cách giải quyết những khác biệt giữa họ.

 

3. Những nội dung của giáo lý hôn nhân

Giáo lý hôn nhân là những giáo điều và giá trị tôn giáo liên quan đến hôn nhân trong các tôn giáo khác nhau. Sau đây là những nội dung chính của giáo lý hôn nhân:

  • Hôn nhân trong Công giáo là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người phụ nữ, thiêng liêng và vĩnh cửu.
  • Mục đích của hôn nhân là để tình yêu giữa vợ chồng được chứng minh và gia đình trở nên hạnh phúc.
  • Hôn nhân trong Công giáo là bí tích Hôn phối, được truyền đạt thông qua giáo quyền và đặc biệt có hai đặc tính cơ bản là đơn hôn (một vợ một chồng) và vĩnh hôn (vĩnh viễn).
  • Tình dục trong hôn nhân Công giáo được xem là thiêng liêng và phải được thực hành trong tình yêu, tôn trọng và có trách nhiệm đối với việc sinh sản.
  • Hôn nhân Công giáo phải được bảo vệ, tôn trọng và chú trọng đến đời sống tinh thần, tình yêu và trách nhiệm giữa vợ chồng.
  • Vợ chồng trong hôn nhân Công giáo phải có trách nhiệm và tôn trọng lẫn nhau, chung sống trong tình yêu, sự giúp đỡ và hỗ trợ.
  • Giáo lý hôn nhân Công giáo còn nói về những trường hợp cần hủy hôn nhân, đó là trong trường hợp có bằng chứng về việc hôn nhân đã không được xác lập theo đúng giáo điều hoặc hôn nhân đã không còn tiếp tục được duy trì.
  • Giáo lý hôn nhân Công giáo cũng quy định về những điều kiện và các quy định pháp lý liên quan đến hôn nhân, nhưng những quy định này khác nhau tùy theo từng quốc gia.

Mọi hoạt động đều hướng đến sự thiện, với sự tôn trọng Thiên Chúa và sự quan trọng của hôn nhân và gia đình. Khi tham gia học giáo lý hôn nhân, nam và nữ nên tham gia cùng nhau để hiểu, chia sẻ và thấm nhuần lời dạy của Linh Mục. Khi kết thúc khóa học, nam hoặc nữ không theo đạo Công giáo sẽ phải đăng ký và hoàn thành một kỳ thi viết và phỏng vấn với nội dung đã được định nghĩa trong chương trình giáo lý hôn nhân. Nếu đạt được điểm số đủ, bạn sẽ được cấp chứng nhận hoàn thành khóa học giáo lý hôn nhân. Sau đó, bạn có thể xin giấy giới thiệu từ Linh Mục để tiến hành lễ kết hôn.

 

4. Bộ câu hỏi ôn thi giáo lý công giáo

Câu 01: Hôn Nhân là gì?

Hôn nhân là một giao ước giữa một người nam và một người nữ có mục đích yêu thương nâng đỡ nhau trong tình vợ chồng, sinh sản và giáo dục con cái.

Câu 02: Hôn Nhân Công Giáo là gì?

Hôn Nhân Công Giáo là Hôn Nhân được Chúa Giêsu nâng lên hàng BÍ TÍCH.

Câu 03: Bí tích Hôn Nhân cho đôi bạn những ơn ích gì?

Bí Tích Hôn Nhân thánh hóa tình yêu vợ chồng và ban nhiều ơn đặc biệt giúp họ chu toàn nghĩa vụ đối với bạn mình và đối với con cái.

Câu 04: Mẫu mực của Hôn Nhân Công Giáo là gì?

Mẫu mực của Hôn Nhân Công Giáo là tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh.

Câu 05: Tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh có những đặc điểm nào?

Tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh có những đặc điểm này:

- Sự kết hiệp phong phú giữa Chúa Kitô và Hội Thánh.

- Sự hiến thân trọn vẹn của Chúa Kitô cho Hội Thánh.

- Sự trung tín tuyệt đối của Chúa Kitô đối với Hội Thánh.

Câu 06: Hôn Nhân Công Giáo có mấy đặc tính?

Hôn nhân Công Giáo có hai đặc tính này:

- Đơn hôn (một vợ một chồng).

- Bất khả phân ly (không được ly hôn).

Câu 07: Nền tảng của hai đặc tính ấy là gì?

Nền tảng của hai đặc tính này là ý định của Thiên Chúa về Hôn Nhân.

Câu 08: Chúa dạy gì về Hôn Nhân?

Chúa dạy rằng: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ” và Người đã phán: “Vì thế, người đàn ông sẽ lìa Cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ trở thành một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt 19, 4-6)

Câu 09: Mục đích của Hôn Nhân Công Giáo là gì?

Mục Đích của Hôn Nhân Công Giáo là vợ chồng TRỌN ĐỜI YÊU THƯƠNG NHAU, SINH SẢN VÀ GIÁO DỤC CON CÁI CÙNG GIÚP NHAU NÊN THÁNH

Câu 10: Làm thế nào để đôi bạn sống trọn đời yêu thương nhau?

Để sống trọn đời yêu thương nhau, đôi bạn phải:

- Sống đạo tốt.

- Tôn trọng phẩm giá và quyền lợi chính đáng của bạn mình.

- Lưu ý đến những khác biệt về tâm sinh lý trong đời sống vợ chồng.

Câu 11: Việc sinh sản con cái có những ý nghĩa nào?

Việc sinh sản con cái có những ý nghĩa chính yếu này:

+ Thiên Chúa cho loài người được vinh dự cộng tác với Người trong việc tạo dựng.

+ Con cái là hoa quả tốt đẹp của tình yêu vợ chồng.

+ Góp phần tăng thêm cộng đoàn nhân loại và phát triển Hội Thánh.

Câu 12: Bí Tích Hôn Nhân giúp đôi bạn nên thánh cách nào?

Nhờ ơn thiêng của Bí Tích Hôn Nhân, đôi bạn nên thánh trong niềm vui đón nhận nhau, sinh sản và giáo dục con cái.

Câu 13: Giáo dục con cái là gì?

Giáo dục con cái là hướng dẫn và giúp chúng phát triển con người toàn diện về thể lý, trí tuệ, đức hạnh và tôn giáo.

Câu 14: Việc Cha Mẹ giáo dục con cái hệ trọng thế nào?

Đối với cha mẹ, việc giáo dục con cái vừa là bổn phận, vừa là một vinh dự, vì khi thực hiện công việc ấy, họ cộng tác với Thiên Chúa chăm sóc mầm non quý giá cho xã hội và Hội Thánh.

Câu 15: Muốn giáo dục thành công, cha mẹ phải thế nào?

Cha mẹ phải:

- Thăng tiến và thánh hóa bản thân.

- Nhất trí với nhau trong đường hướng và cách thức giáo dục.

- Tạo bầu khí gia đình hoà thuận, thánh thiện và tín nhiệm nhau.

Câu 16: Luân lý tính dục trong đời sống Hôn Nhân là gì?

Luân lý tính dục trong đời sống hôn nhân là tính cách hợp pháp do chính Thiên Chúa thiết lập cho đời sống vợ chồng.

Câu 17: Luân lý tính dục có những nguyên tắc nào?

Có những nguyên tắc này:

- Các hành vi trao hiến vợ chồng, tự bản chất, là lương thiện.

- Luân lý Công Giáo tôn trọng thân xác, nhưng không quá đề cao hành vi giới tính.

- Phải có sự trong sạch và tiết độ trong đời sống vợ chồng.

Câu 18: Tại sao Hội thánh không cho phép vợ chồng ngừa thai bằng các phương pháp nhân tạo?

Vì các phương pháp ngừa thai nhân tạo trực tiếp đối nghịch với bản chất và mục đích của hành vi vợ chồng, đồng thời trực tiếp phạm đến sự sống vừa được hình thành.

Câu 19: Hậu quả luân lý của việc phá thai là gì?

Đây là một trọng tội, kèm theo vạ tuyệt thông. Vạ này không được tha thì hối nhân không được lãnh bất cứ bí tích nào.

Câu 20: Hội Thánh dạy thế nào về việc sinh sản con cái?

Hội Thánh dạy: sinh sản có trách nhiệm, nghĩa là khi sinh con, cha mẹ phải lo lắng chăm sóc, dưỡng dục để chúng sống xứng đáng phẩm giá làm người, và làm con của Chúa. Do đó, đôi bạn cần suy xét thận trọng về sức khỏe, kinh tế, giáo dục… để có quyết định đúng đắn.

Câu 21: Để có những quyết định đúng đắn về việc điều hòa sinh sản, đôi bạn phải có những yếu tố nào?

Đôi bạn phải có những yếu tố này:

- Lương tâm ngay thẳng, chân chính.

- Tinh thần trách nhiệm cao.

- Tuân giữ giáo huấn của Hội Thánh về việc điều hòa sinh sản.

Câu 22: Các Bí tích giúp gì cho đời sống của đôi bạn?

Các bí tích có mục đích thánh hóa loài người, xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô và thờ phượng Thiên Chúa. Riêng đối với đôi bạn, các Bí tích nhất là Bí Tích Giải Tội và Thánh Thể, còn thánh hóa tình yêu vợ chồng, ban nhiều ơn sủng giúp đôi bạn chu toàn trách nhiệm đối với nhau và đối với con cái.

Câu 23: Hôn Nhân liên hệ với Bí Tích Rửa Tội thế nào?

Có liên hệ cơ bản vì chỉ những ai Rửa Tội mới có thể cử hành Bí Tích Hôn Nhân. Hơn nữa, Bí tích Rửa Tội là cửa ngõ vào Nước Trời, nên do tình thương và trách nhiệm, cha mẹ phải lo liệu cho con cái được Rửa tội theo quy định của Hội Thánh.

Câu 24: Cha mẹ phải lo liệu việc Rửa tội cho con cái như thế nào?

Cha mẹ phải lo cho con cái được Rửa Tội như sau:

• Lúc bình thường: Sau khi sinh con khoảng một tháng, cha mẹ cùng người đỡ đầu, đem con đến Nhà thờ để Linh mục rửa tội.

Khi nguy tử: cha mẹ hoặc người khác rửa tội cho con. Trường hợp sẩy thai bất cứ vào giai đoạn nào cũng phải rửa tội.

Câu 25: Thừa tác viên chính thức của Bí tích hôn phối là ai?

Là chính đôi hôn phối

Câu 26: Để kết hôn thành sự cần phải có những yếu tố nào?

- Phải là 2 người đã được rửa tội trong Hội thánh Công giáo, trường hợp khác đạo phải có phép chuẩn.

- Phải ý thức và đầy đủ tự do ưng thuận lấy nhau, hôn phối phải được cử hành theo nghi thức của Hội thánh và không mắc ngăn trở theo Giáo luật.

Câu 27: Yếu tố cấu tạo nên hôn nhân?

Đó là sự ưng thuận giữa hai người nam nữ với các điều kiện: có ý thức, tự do chứ không bị ép buộc, cưỡng bức…

Câu 28: Có những ngăn trở nào làm cho tiêu hôn (làm cho giá thú vô hiệu)?

Chưa đủ tuổi, bất lực, bị ràng buộc dây hôn phối trước, khác tôn giáo, chức thánh, khấn dòng (vĩnh khấn), bị bắt cóc, mưu sát người phối ngẫu, họ máu, họ kết bạn, về công hạnh và pháp tộc.

Câu 29: Ai có thể chuẩn chước cho bố cưới con gái, anh em ruột có thể thấy nhau?

Không ai cả

Câu 30: Lời Chúa có cần thiết cho đời sống Hôn Nhân và gia đình Công giáo không?

Lời Chúa rất cần thiết cho đời sống Hôn Nhân và Gia đình, vì:

+ Lời Chúa là Lời Tình yêu.

+ Lời Chúa ban sự sống.

+ Lời Chúa biểu lộ ý muốn của Thiên Chúa.

Câu 31: Phải đọc Lời Chúa thế nào?

Phải đọc Lời Chúa trong Đức Tin với tâm tình khiêm tốn, đơn sơ,trong ước muốn được dạy dỗ và trong tư thế sẵn sàng thực hiện điều Chúa dạy.

Câu 32: Đọc Lời Chúa trong gia đình được những ích lợi nào?

Khi đọc Lời Chúa trong gia đình, mọi người không những được thánh hóa, nuôi dưỡng, mà còn được hướng dẫn bởi cùng một giáo huấn nên dễ giúp nhau thực hành Lời Chúa hơn.

Câu 33: Kinh nguyện trong gia đình có cần thiết không?

Rất cần thiết vì Kinh nguyện chung giúp gia đình sống tốt đẹp ơn gọi Kitô hữu và dạy con cái biết cầu nguyện.

Câu 34: Giờ kinh tối trong gia đình có những mục đích nào?

Giờ kinh tối có những mục đích này:

- Cảm tạ Thiên Chúa vì những hồng ân đã lãnh nhận.

- Dâng niềm vui, nỗi buồn của gia đình và bản thân lên Chúa.

- Kiểm điểm và giúp nhau kiểm điểm đời sống.

- Xin Chúa giữ gìn mọi người được an lành.

- Tăng thêm tình thân ái gia đình.

Câu 35: Công đồng Vaticanô II nói thế nào về liên hệ giữa gia đình và Giáo Hội?

Công đồng dạy: “Sự lành mạnh của con người cũng như của xã hội nhân loại và Kitô giáo liên kết chặt chẽ với tình trạng Tốt đẹp của Cộng đoàn Hôn Nhân và Gia đình.”

Câu 36: Hội Thánh liên hệ thế nào với gia đình?

Hội thánh sinh ra, dưỡng dục và xây dựng Gia đình Công Giáo.

Câu 37: Gia đình liên hệ thế nào với Hội Thánh?

Gia đình dự phần sứ mệnh cứu rỗi của Hội Thánh theo cách thức riêng của mình

Câu 38: Gia đình có nghĩa vụ gì đối với Hội Thánh?

Gia đình có nhiều nghĩa vụ đối với Hội Thánh:

+ Gia đình phải hiệp thông với Hội Thánh.

+ Gia đình phải tuân giữ các giáo huấn của Hội Thánh.

+ Gia đình thi hành 3 chức năng: Tư tế, Ngôn Sứ và Vương giả theo cách thức riêng của mình.

Câu 39: Gia đình và xã hội có Liên hệ gì với nhau?

Gia đình và xã hội có liên quan mật thiết với nhau vì:

- Gia đình là khung cảnh đầu tiên thể hiện tính xã hội của con người và là khung cảnh đầu tiên để con người tập Dấn thân hoạt động xã hội.

- Gia đình là nền tảng xã hội.

Câu 40: Gia đình và xã hội có những vấn đề gì đối với nhau?

Gia đình phải góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phúc âm. Còn xã hội phải tôn trọng và giúp đỡ những quyền lợi căn bản của Gia đình.

Câu 41: Để Bí tích Hôn phối thành sự phải có những điều kiện nào?

- Phải có bốn điều kiện này:

- Một là một nam một nữ đã rửa tội.

- Hai là có tự do kết hôn, không bị ép buộc cũng không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh

- Ba là phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn.

- Bốn là cử hành theo thể thức của Hội Thánh.

Câu 42: Ngăn trở hôn phối là gì?

Ngăn trở hôn phối là những hoàn cảnh hoặc trường hợp làm cho cuộc hôn phối không thành sự hoặc bất hợp pháp.

Câu 43: Có bao nhiêu ngăn trở hôn phối?

Có 12 ngăn trở sau đây:

- Một là chưa đủ tuổi kết hôn

- Hai là bất lực, không thể sinh hoạt vợ chồng.

- Ba là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

- Bốn là khác tôn giáo.

- Năm là chức thánh.

- Sáu là khấn dòng.

- Bảy là bắt cóc.

- Tám là tội mưu sát phối ngẫu.

- Chín là có họ máu.

- Mười là có họ kết bạn.

- Mười một là công hạnh.

- Mười hai là pháp tộc.

Câu 44: Khi mắc ngăn trở thì phải làm gì?

Phải xin phép chuẩn. Tuy nhiên, có những ngăn trở Hội Thánh cũng không thể miễn chuẩn được, đó là các trường hợp:

- Một là bất lực,

- Hai là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

- Ba là có họ máu theo hàng dọc.

- Bốn là có họ máu hai bậc theo hàng ngang.

Câu 45: Vì sao sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết làm nên hôn nhân?

Vì sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau và được thể hiện trọn vẹn khi hai người “trở nên một xương một thịt”. Không một quyền hành nào của loài người có thể thay thế sự ưng thuận này. Thiếu sự tự do này, cuộc hôn nhân sẽ không thành.

Câu 46: Những trường hợp nào thiếu sự tự do ưng thuận kết hôn?

Những trường hợp sau đây:

- Một là không có đủ trí khôn.

- Hai là thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

- Ba là vì tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

- Bốn là vô tri, không biết hôn nhân là gì.

- Năm là lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu.

- Sáu là lường gạt.

- Bảy là giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn.

- Tám là ưng thuận với điều kiện về tương lai.

- Chín là ưng thuận vì bạo lực hoặc vì sợ hãi.

5. Trắc nghiệm và đáp án về Tông Huấn Gia Đình của Đức Thánh Cha Gioan – Phaolô II

00a. Tông huấn “Về các bổn phận của Gia đình” (Familiaris Consortio) là của Đức Giáo Hoàng nào?

a. Đức giáo hoàng Gioan XXIII

b. Đức giáo hoàng Phaolô VI

c. Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II

d. Đức giáo hoàng Biển Đức XVI

00b. Tông huấn “Về các bổn phận của Gia đình” (Familiaris Consortio) được công bố năm nào?

a. 22/11/1981

b. 18/8/1998

c. 1/1/2000

d. 1/5/2010

01a. Đây là những mặt tích cực liên quan đến đời sống hôn nhân gia đình trong thế giới hôm nay:

a. Chú ý nhiều hơn đến phẩm chất của các tương quan liên vị trong hôn nhân.

b. Chú ý nhiều hơn đến sự sinh sản có trách nhiệm.

c. Chú ý nhiều hơn đến việc giáo dục trẻ em.

d. Cả a, b và c đúng.

01b. Đây là những mặt tiêu cực liên quan đến đời sống hôn nhân gia đình trong thế giới hôm nay:

a. Sự ly dị gia tăng.

b. Vết thương về sự phá thai.

c. Việc dùng các phương pháp triệt sản ngày càng nhiều.

d. Cả a, b và c đúng.

02a. Chúa Kitô đã đặt giáo dân làm “những chứng nhân khi Ngài ban cho họ cảm thức đức tin và ơn sử dụng ngôn ngữ để sức mạnh của điều gì được sáng ngời trong đời sống thường ngày, trong gia đình và ngoài xã hội?”

a. Tin Mừng

b. Lương tâm

c. Lòng yêu thương

d. Sự hy sinh.

02b. Do ơn gọi riêng của mình, giáo dân có nhiệm vụ đặc biệt gì?

a. Diễn giải lịch sử thế giới theo ánh sáng Đức Kitô.

b. Hoàn thành những nghĩa vụ trần thế.

c. Sống tốt giữa đời.

d. Thực thi công lý với mọi người.

03a. Ngày nay gia đình phải đương đầu với thách đố quan trọng nào?

a. Sự pha trộn bóng tối và ánh sáng.

b. Sự thiếu công ăn việc làm.

c. Sự mất an ninh xã hội.

d. Sự nghèo khổ.

03b. Sự pha trộn giữa bóng tối và ánh sáng còn là 1 cuộc chiến giữa những mối tự do đối nghịch nhau, nói theo thánh Augustinô, một cuộc xung đột giữa 2 tình yêu: 1 bên là lòng yêu mến Thiên Chúa đến độ coi rẻ chính mình và một bên là lòng yêu mến mình đến độ coi rẻ điều gì?

a. Thiên Chúa

b. Mạng sống

c. Của cải tiền tài

d. Danh vọng

04a. Đâu là nguyên nhân sâu xa của các dấu hiệu tiêu cực của xã hội ngày nay?

a. Sự suy đồi trong quan niệm và trong kinh nghiệm về tự do.

b. Sự phát triển quá nhanh của xã hội.

c. Sự chịu đựng tai họa của thiên nhiên.

d. Sự bất công của xã hội.

04b. Căn nguyên của những hiện tượng tiêu cực của xã hội ngày nay thường là sự suy đồi trong quan niệm và trong kinh nghiệm về tự do, người ta không còn coi tự do như khả năng thực hiện sự thật của ai và cho hôn nhân và gia đình?

a. Thiên Chúa

b. Lương tâm

c. Giáo hội

d. Xã hội

05a. Sống trong một thế giới đầy rẫy các dấu hiệu tiêu cực của xã hội và nhất là dưới ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng, lúc nào người tín hữu cũng tránh được việc bị lây nhiễm tình trạng các giá trị căn bản bị lu mờ. Đúng hay sai?

a. Đúng

b. Sai

05b. Sống trong 1 thế giới đầy rẫy các dấu hiệu tiêu cực, người Kitô hữu phải là những người tích cực xây dựng điều gì?

a. Một nền nhân bản đích thực về gia đình.

b. Một nền giáo dục lễ giáo.

c. Một nền văn minh tình thương.

d. Một nền văn hóa sự sống.