1. Phục hồi vụ án là gì?

Phục hồi vụ án trong giai đoạn truy tố là trường hợp Viện kiểm sát quyết định tiếp tục việc giải quyết vụ án mà trước đó đã bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm.

Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong các trường hợp: Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố; Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố; trong trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật TTHS; Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp mà chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp tiếp tục tiến hành cho đến khi có kết quả.

Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật TTHS  hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.

2. Phục hồi vụ án trong BLTTHS 

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định việc phục hồi vụ án trong giai đoạn truy tố. Để khắc phục hạn chế này, phúc đáp yêu cầu của thực tiễn, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung quy định mới về phục hồi vụ án trong giai đoạn truy tố (Điều 249). Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu vụ án bị đỉnh chỉ trong trường hợp vì đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc do tội phạm đã được đặc xá theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự của Bộ luật tố tụng hình sự, mà bị can không đồng ý và yêu cầu phục hồi vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án. Có thể phục hồi đối với toàn bộ vụ án hoặc phục hồi vụ án đối với từng bị can.

Để bảo đảm tính pháp lý rõ ràng, quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ phục hồi vụ án, các vấn đề khác có liên quan và các nội dung của văn bản tố tụng quy định tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Nhằm xác định rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Viện kiểm sát phải giao quyết định phục hồi vụ án hoặc quyết định phục hồi vụ án đối với bị can cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi cho cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Việc giao, nhận quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án (khoản 3 Điều 249).

Đồng thời, để giải quyết và tránh những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn liên quan đến thời hạn quyết định việc truy tố khi phục hồi vụ án, Điều 249 cũng quy định rõ thời hạn quyết định việc truy tố khi phục hồi vụ án được tính theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, kể từ ngày Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án (khoản 4 Điều 249).

Liên quan đến việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, khi phục hồi vụ án, Viện kiểm sát có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn quyết định việc truy tố (khoản 5 Điều 249).

3. Lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án

Được coi là có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ: bị can, bị cáo bị tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo đã được tạm đình chỉ vụ án này đã khỏi bệnh; đã có kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp đối với những vụ án hoặc bị can, bị cáo đã được tạm đình chỉ vụ án; đã bắt được bị can, bị cáo bị truy nã theo yêu cầu của Tòa án trước khi tạm đình chỉ vụ án đối với họ; đã có kết quả sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp lý trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo kiến nghị của Tòa án.

4. Lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án 

Được coi là có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ:

+ Vụ án được đình chỉ theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS nhưng sau đó phát hiện căn cứ cho rằng người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức.

+ Vụ án được đình chỉ khi có một trong các căn cứ sau đây nhưng xuất hiện lý do để hủy quyết định đình chỉ vụ án: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa dến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

Đối với vụ án có nhiều bị can, bị cáo cùng được tạm đình chỉ hoặc đình chỉ nhưng chỉ có lý do hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ đối với một hoặc một số bị can, bị cáo thì ra quyết định phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.

 5. Một số quy định mới khác trong giai đoạn truy tố 

Bộ luật tố tụng hình sự 2015 gồm 14 điều luật quy định về Quyết định việc truy tố bị can (Chương XIX) thể hiện nhiều nội dung mới, chi tiết hơn, cụ thể như sau:

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát:

Để phù hợp với nguyên tắc Hiến định quy định tại Điều 107 Hiến pháp 2013 và Điều 2, 3, 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 thì BLTTHS 2015 đã bổ sung mới Điều 236, Điều 237 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn truy tố; thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội; tăng cường hơn nữa trách nhiệm của VKS trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân; cũng như cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn để người tiến hành tố tụng trong VKS thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm luật định. Theo đó, cũng quy định trách nhiệm giữa Cơ quan điều tra và VKS trong quá trình chuyển giao hồ sơ tại Điều 238, từ giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra vụ án hình sự (phần thứ hai) sang giai đoạn Truy tố(phần thứ ba).

- Thẩm quyền truy tố:

Khi đã xác định thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự (Điều 153), thẩm quyền điều tra (Điều 163), thẩm quyền xét xử của Tòa án (Điều 268-270...) thì việc bổ sung mới về Thẩm quyền truy tố ( Điều 239 BLTTHS 2015) là phù hợp và đồng bộ, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, quy định cụ thể thẩm quyền truy tố của VKS ngang cấp; về việc chuyển vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố; việc phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữa VKS cấp trên và VKS cấp dưới...

Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định truy tố. Quy định trách nhiệm của VKS cấp trên và cấp dưới trong việc phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, việc quy định “cấp trên” không có cụm từ “trực tiếp” là một hướng mở...

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, VKS (nơi ra quyết định chuyển) phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác (thuộc Điều 55 BLTTHS 2015).

- Thời hạn truy tố; các quyết định:

Điều 240 BLTTHS 2015 quy định về thì thời hạn truy tố không có thay đổi so với Điều 166 BLTTHS 2003, tuy nhiên bổ sung một số diện người phải thông báo và được nhận các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này trong thời hạn 03 ngày kể từ khi ra các quyết định:

Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung: VKS phải thông báo cho bị can, người bào chữa, mở rộng thêm  diện hoặc người đại diện của bị can, bị hại biết;

Bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can: giao cho bị can, mở rộng thêm diện hoặc người đại diện của bị can và gửi cho Cơ quan điều tra, người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ (BLTTHS 2003 quy định người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan dến việc bảo chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu).

Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.

Việc giao, nhận các văn bản nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.

Các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 240 phải được gửi ngay cho VKS cấp trên. 

Điều 243 Quyết định truy tố bị can: BLTTHS 2015 yêu cầu thêm một số nội dung của Cáo trạng là “tính chất, mức độ thiêt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội”.

Điều 244 Chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa: Bổ sung thêm trường hợp vụ án phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày. Trường hợp vụ án có bị can bị tạm giam thì trước khi hết thời hạn tạm giam 07 ngày thì VKS phải thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị can khi nhận hồ sơ vụ án.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)