1. Án lệ 57/2023/AL1 về hành vi gian dối nhằm tiếp cận tài sản trong tội "Cướp giật tài sản"
Nguồn án lệ : Bản án hình sự phúc thẩm số 590/2020/HS-PT ngày 18/12/2020 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án "Cướp giật tài sản" đối với bị cáo Nguyễn Thành Quốc B.
Tình huống án lệ : Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để người quản lý tài sản chuyển giao tài sản cho bị cáo, sau đó lợi dụng sơ hở để nhanh chóng tẩu thoát.
Nội dung vụ án : Trong khoảng thời gian 02 tháng, bị cáo B có hành vi 05 lần sử dụng sim "rác" tạo tài khoản trên các ứng dụng bán hàng trực tuyến, đặt mua các sản phẩm điện thoại có giá trị cao nhằm chiếm đoạt tài sản. Để tiếp cận được tài sản, bị cáo có hành vi chuẩn bị các xấp tiền có tiền và mệnh giá từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng nhưng mỗi xấp chỉ có 02 tờ tiền thật ở mặt trên và mặt dưới, ở giữa là tiền âm phủ và dùng dây thun cột lại để khi nhận hàng, bị cáo lấy những xấp tiền đã chuẩn bị để đưa cho những người bị hại (người vận chuyển các đơn hàng này), lợi dụng sơ hở khi những người vận chuyển tháo dây thun kiểm, đếm tiền thì bị cáo B tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát cùng tài sản.
Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Tân phú, TP. Hồ Chí Minh tuyên bị cáo B phạm tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Không đồng ý với tội danh của Toà án cấp sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị Bản án sơ thẩm, bởi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho rằng giữa bị cáo B và các bị hại đã tiến hành giao tiền, nhận tài sản sau khi bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để các bị hại tin tưởng là tiền thật nên đã giao hàng cho bị cáo, do đó đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề nghị xử phạt bị cáo B về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Sau khi xem xét Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát và các tình tiết trong vụ án, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có nhận định trong Bản án hình sự phúc thẩm về nội dung này như sau : Bị cáo có thủ đoạn gian dối là để các bị hại thấy bị cáo có tiền, nhằm tạo niềm tin để tiếp cận tài sản. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bên đang thực hiện hành vi giao hàng - nhận tiền, việc chuyển giao tài sản giữa các bị hại và bị cáo chưa hoàn thành, bị cáo chưa ký nhận vào chứng từ giao hàng, tài sản vẫn trong tầm quản lý của các bị hại thì bị cáo đã tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát cùng tài sản. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự như Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật.
2. Án lệ 58/2023/AL1 về tình tiết định khung hình phạt tại điểm c khoản 3 Điều 244 Bộ luật Hình sự
Nguồn án lệ : Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2018/HSST ngày 14/9/2018 của Toà án nhân dân thành phố hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về vụ án "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm" đối với bị cáo Hoàng Đình Q.
Tình huống án lệ : Bị cáo có hành vi vận chuyển 05 cá thể hổ và 01 bộ phận không thể tách rời sự sống của cá thế hổ thứ 06.
Nội dung vụ án : Anh Hoàng Đình Q được thuê vận chuyển một số hàng hoá động vật trong đó có hổ, khỉ, vẩy tê tê, mật bò, răng thú,...từ phành phố V ra thành phố M tiền công 2.000.000 đồng. Đến thành phố L bị công an kiểm tra và thu giữ 01 thùng các tông chứ 05 con hổ con đông lạnh đã chết và 01 bộ phận sinh dục hổ đực và các thùng xốp, hộp nhỏ, túi ni lông chứa vẩy tê tê, túi mật, răng động vật...
Trường hợp này, anh Q đã phạm tội "vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm" theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, để xác định được khung hình phạt chính xác còn phải dựa vào khối lượng và số lượng động vật bị thu giữ theo quy định của pháp luật. Nếu 01 bộ phận sinh dục của hổ đực nêu trên là của một trong 5 con hổ đông lạnh đã chết thì anh Q có thể sẽ bị Toà án tuyên mức án trong khung hình phạt tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Hình sự (bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm). Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm căn cứ theo các Kết luận giám định xác đinh 01 bộ phận sinh dục của con hổ đực bị thu giữ thuộc 01 cá thể hổ khác, như vậy 01 bộ phận sinh dục này được coi là bộ phận không thể tách rời của con hổ thứ 6. Do đó, Bản án sơ thẩm xác định anh có hành vi vận chuyển 05 con hổ và 01 bộ phận không thể tách rời sự sống của 01 con hổ thứ 06. Điểm c khoản 3 Điều 244 Bộ luật Hình sự quy định "3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm : c) Từ 03 cá thể voi, tê giác trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 03 cá thể voi, tê giác trở lên; 06 cá thể gấu, hổ trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 06 cá thể gấu, hổ trở lên". Như vậy, anh Q đã vi phạm vào quy định tại điểm c khoản 3 Điều 244 Bộ luật hình sự nên phải chịu mức hình phạt trong khung hình phạt từ 10 năm đến 15 năm.
3. Án lệ 59/2023/AL1 về lỗi cố ý gián tiếp trong vụ án "Giết người"
Nguồn án lệ : Bản án phúc thẩm số 50/2020/HS-ST ngày 10/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái về vụ án "Giết người" đối với các bị cáo Triệu Văn M, Đặng Văn T.
Tình huống án lệ : Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công bị hại. Bị hại điều khiển xe mô tô bỏ chạy, bị cáo tiếp tục truy đổi làm bị hại lo sợ phải tăng tốc bỏ chạy. Khi bị hại bị tai nạn thì bị cáo mới dừng việc truy đuổi. Bị hại tử vong trên đường đi cấp cứu.
Nội dung vụ án : Do có mâu thuẫn từ trước, Triệu Văn M rủ Đặng Văn T đánh anh Nguyễn Ngọc V. Vào khoảng 20 giờ ngày 20/12/2018, sau khi M và T gặp anh V tại đám cưới, khi anh V chở chị L về, M và T đuổi theo và chặn đường anh V với chị L, đối tượng M và T dùng tay chân đấm đá, rồi dùng gậy kim loại tấn công anh V nhiều nhát vào mặt, bắp tay, ngực, sườn, lưng. Khi anh V điều khiển xe máy bỏ chạy cùng L thì T với M sử dụng mô tô tiếp tục truy đuổi với vận tốc trên 50km/giờ. T cầm theo gậy sắt, còn M hô to yêu cầu V và L đứng lại. Anh V thấy vậy phải tăng tốc bỏ chạy, do bị đuổi đánh và đoạn đường dốc với tốc độ cáo, khi đến ngã ba V bị lao xe qua đường lên bãi đất trống thì bị ngã xe. Khi V bị tai nạn thì T và M mới dừng việc truy đuổi. Anh V tử vong trên đường đi cấp cứu.
Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo T và bị cáo M phạm tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại đã kháng cáo vì không đồng ý với tội danh mà bản án sơ thẩm tuyên. Sau khi xem xét các tình tiết trong vụ án, bản án hình sự phúc thẩm nhận định : hành vi của bị cáo T và M sử dụng gậy kim loại, hung khí nguy hiểm đánh nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, thân thể V. Anh V trong tình trạng bị đánh đau, lại bị các bị cáo truy đuổi, uy hiếp, đe doạ, buộc anh V lo sợ tiếp tục bị đánh nên đã điều khiển xe mô tô bỏ chạy với vận tốc nhanh, trên đường bê tông liên thôn có nhiều khúc cua liên tiếp, có độ dốc lớn trong điều kiện trời tối, có khả năng gây tai nạn nguy hiểm dẫn đến chết người. Các bị cáo buộc phải nhận thức được điều đó, nhưng vẫn tiếp tục đuổi theo anh V cho đến khi thấy anh V bị ngã xe mới dừng lại. Với hành vi nguy hiểm nêu trên, có đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của các bị cáo là rất quyết liệt, chứng tỏ về mặt chủ quan các bị cáo không mong muốn hậu quả chết người xảy ra, nhưng có ý thức chấp nhận để hậu quả chết người xảy ra và thực tế là anh V đã chết. Do đó, có đủ căn cứ các bị cáo T và M đã phạm tội "Giết người" với lỗi cố ý gián tiếp.
Trên đây là toàn bộ bài viết liên quan đến vấn đề Bổ sung 03 án lệ về hình sự mà Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách hàng. Ngoài ra, quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết Án lệ là gì? Quy trình lựa chọn, nguyên tắc áp dụng, bãi bỏ án lệ để biết thêm thông tin hữu ích. Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào khác cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại : 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu đến địa chỉ email : lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách. Trân trọng !