1. Bút kí là gì?
Bút kí phiên tòa là bản ghi chép các sự việc diễn ra tại phiên tòa. Bút kí phiên tòa được thể hiện trong nội dung biên bản phiên tòa và biên bản nghị án. Bút kí phiên tòa phải phản ánh ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm của phiên tòa, mọi diễn biến ở phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi tuyên án, thể hiện đầy đủ những câu hỏi và những câu trả lời tại phiên tòa, các ý kiến đã thảo luận và quyết định của hội đồng xét xử khi nghị án.
2. Biên bản phiên toà là gì?
Biên bản phiên tòa phản ánh mọi diễn biến của phiên tòa. Do đó, thư kí tòa án phải có mặt thường xuyên, liên tục tại phòng xử án để ghi biên bản. Biên bản phiên tòa là một trong những căn cứ quan trọng để viện kiểm sát, tòa án có thẩm quyền kiểm tra, kiểm sát lại việc xét xử của tòa án nên phải được ghi yào những tờ giấy riêng lưu vào ưong hồ sơ vụ án.
2.1. Biên bản phiên toà dân sự sơ thẩm
Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tạí khoản 1 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, hội đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.
Một biên bản phiên tòa phải có đầy đủ nội dung sau
Điều 236: Biên bản phiên tòa:
1.Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;
b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa;
c) Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên tòa.
2. Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.
3. Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký phiên tòa ký biên bản đó.
4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.
Nội dung của một biên bản phiên tòa sẽ phải có các nội dung chính có trong quyết định của bản án của vụ án được đem ra xét xử phải có bao gồm:
- Ngày, tháng, năm ra quyết định;
- Tên Tòa án ra quyết định;
- Vụ án được đưa ra xét xử;
- Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
-Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết (nếu có);
- Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
-Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
- Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
- Họ, tên người được triệu tập tham gia phiên tòa.
Ngoài ra thì nội dung biên bản cũng phải thể hiện được mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi phiên tòa bắt đầu đến khi kết thúc, các câu hỏi của luật sư, của thẩm phán, và các câu trả lời của nguyên đơn cũng như bị đơn phát biểu tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cũng có thể sử dụng hình thức ghi âm, ghi hình diễn biến phiên tòa không nhất thiết phải dùng hình thức duy nhất là ghi biên bản phiên tòa. Để đảm bảo nội dung của biên bản phiên tòa thì sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng thư ký phiên tòa ký vào biên bản này. Ngay sau kết thúc phiên tòa kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và lợi ích liên quan có quyền xem nội dung biên bản phiên tòa cũng như có yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung và biên bản tòa và ký xác nhận vào nội dung biên bản phiên tòa.
2.2. Biên bản phiên toà hình sự
Theo Điều 258 Bộ luật Hình sự 2015 quy định
"Điều 258. Biên bản phiên tòa
1. Biên bản phiên tòa phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa và mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa. Cùng với việc ghi biên bản, có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh về diễn biến phiên tòa.
2. Các câu hỏi, câu trả lời, lời trình bày và quyết định tại phiên tòa đều được ghi vào biên bản.
3. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký Tòa án ký vào biên bản đó.
4. Sau khi chủ tọa phiên tòa và Thư ký Tòa án ký vào biên bản phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hoặc đại diện của những người đó được xem biên bản phiên tòa. Nếu có người yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa thì Thư ký Tòa án phải ghi sửa đổi, bổ sung đó vào biên bản phiên tòa. Không được tẩy xóa, sửa chữa trực tiếp mà phải ghi sửa đổi, bổ sung tiếp vào cuối biên bản phiên tòa và cùng chủ tọa phiên tòa ký xác nhận; nếu chủ tọa phiên tòa không chấp nhận yêu cầu thì phải nêu rõ lý do và ghi vào biên bản phiên tòa."
- Nội dung của biên bản phiên tòa
Biên bản phiên tòa phải ghi rõ :
Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm của phiên tòa và mọi diễn biến của phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi tuyên án.
Thủ tục bắt đầu xét hỏi, những vật chứng được đưa ra xem xét, những việc vi phạm trật tự phiên tòa và việc xử lý của chủ tịch phiên tòa, lời luận tội cùa kiểm sát viên, lời bào chữa của ngựời bào chữa và của bị cáo, những ý kiến của các người tham gia tranh luận và những quyết định của Hội đồng xét xử,...
Vì vậy, việc ghi biên bản phiên tòa đầy đủ, chính xác rất quan trọng để có thể kiểm tra xem những việc làm của tòa án có đúng thủ tục không và việc xét xử có chính xác không.
Những câu hỏi và câu trả lời đều phải được ghi vào biên bản và phải được ghi đúng nội dung. Trong trường hợp những người được xét hỏi khai dài dòng, trùng lập thì có thể ghi tóm tắt.
Đối với những quyết định cùa tòa án đã làm thành văn bản thì chỉ cần ghi phần quyết định chứ không cần ghi toàn văn. Khi Hội đồng xét xử tuyên án thì cũng chì cần ghi phần quyết định của bản án chứ không cần ghi toàn văn bản án
- Trách nhiệm ghi biên bản phiên tòa
Việc ghi biên bản phiên tòa một cách đầy đủ và chính xác là trách nhiệm của thư ký phiên tòa.
Trong trường hợp ghi bằng tốc ký hoặc ghi âm thì sau khi kết thúc phiên tòa phải được ghi ra bằng văn bản để vào hồ sơ. Sau khi phiên tòa kết thúc, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra văn bản và cùng với thư ký phiên tòa ký vào biên bản phiên tòa.
- Những người được xem biên bản phiên tòa
Sau khi phiên tòa kết thúc, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của những người đó có quyền yêu cầu được xem biên bản phiên tòa.
Trong trường hợp chủ tọa phiên tòa hoặc những người có quyền được xem biên bản thấy có chỗ chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác, thì có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung.
Chủ tọa phiên tòa quyết định việc sửa đổi, bổ sung, và trong trường hợp thấy cần thiết thì triệu tập lại các hội thẩm nhân dân để quyết định. Đối với những chỗ được sửa đổi, bổ sung thì chủ tọa phiên tòa, thư ký phiên tòa ký xác nhận. Trong trường hợp, yêu cầu không được chấp nhận thì chủ tọa phiên tòa phải thông báo cho người có yêu cầu biết. Tuy nhiên, người bị bác bỏ yêu cầu vẫn có quyền làm đơn nêu rõ ý kiến của mình và đơn này được đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Biên bản nghị án
Biên bản nghị án là văn bản ghi nhận kết quả biểu quyết của Hội đồng xét xử về kết quả xét xử vụ án, quyết định của hội đồng xét xử về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác (nếu cần thiết)
3.1. Biên bản nghị án phiên toà hình sự sơ thẩm
Căn cứ Điều 259 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định
"Điều 259. Biên bản nghị án
1. Khi nghị án phải lập biên bản.
Biên bản nghị án phải được tất cả thành viên Hội đồng xét xử ký tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
2. Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Giờ, ngày, tháng, năm ra biên bản; tên Tòa án xét xử;
b) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Kết quả biểu quyết của Hội đồng xét xử về từng vấn đề đã thảo luận quy định tại khoản 3 Điều 326 của Bộ luật này, ý kiến khác (nếu có).
3. Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi rõ các điểm a, c và d khoản 2 Điều này và họ tên các Thẩm phán."
- Những người có quyền nghị án
Chủ tọa phiên tòa chủ trì việc nghị án có trách nhiệm đưa ra từng vấn đề của vụ án phải được giải quyết để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định. Chủ tọa phiên tòa tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng xét xử ghi biên bản nghị án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề.
Chỉ có các thành viên của Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
- Nội dung của biên bản nghị án
Việc nghị án của Hội đồng xét xử phải được lập biên bản.
Trong đó biên bản nghị án phải ghi lại đầy đủ các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải ghi rõ: giờ, ngày, tháng, năm ra biên bản; tên Tòa án xét xử; họ tên Thẩm phán, Hội thẩm; vụ án được đưa ra xét xử; kết quả biểu quyết của Hội đồng xét xử về từng vấn đề đã thảo luận quy định tại khoản 3 Điều 326 của Bộ luật này, ý kiến khác (nếu có).
- Vai trò của biên bản nghị án
Biên bản nghị án phải được tất cả thành viên Hội đồng xét xử ký tại phòng nghị án trước khi tuyên án, nếu có thành viên nào có ý kiến thiểu số thì có thể ghi ngay vào biên bàn nghị án hoặc bằng văn bản riêng.
Quy định này đảm bảo tính có căn cứ pháp lý của việc nghị án. Bởi biên bản nghị án là một văn bản có tính pháp lý, nếu nội dung các quyết định được ghi trong biên bản nghị án khác với nội dung quyết định được ghi trong bản án, thì bản án đó không có giá trị pháp luật mà giá trị pháp luật là nội dung các quyết định đã được ghi trong biên bàn nghị án. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm sẽ bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc thủ tục giám đốc thẩm nhằm hủy bàn án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.
3.2. Biên bản nghị án phiên toàn dân sự sơ thẩm
Căn cứ Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định
"Điều 264. Nghị án
1. Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án.
2. Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
4. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án nhưng không quá 05 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về giờ, ngày và địa điểm tuyên án. Trường hợp Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có người tham gia tố tụng vắng mặt vào ngày, giờ và địa điểm tuyên án thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 267 của Bộ luật này."