1. Quy định pháp luật về chứng chỉ hành nghề dược

Chứng chỉ hành nghề dược là một trong những điều kiện pháp lý quan trọng đối với cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dược. Theo Luật Dược năm 2016 và các quy định sửa đổi, bổ sung của Luật Dược năm 2024, đây là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người đáp ứng đầy đủ điều kiện về trình độ chuyên môn, thời gian thực hành, sức khỏe và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật để được hành nghề dược.

Khác với văn bằng chuyên môn, chứng chỉ hành nghề dược không chỉ xác nhận năng lực chuyên môn mà còn gắn liền với trách nhiệm pháp lý của cá nhân trong suốt quá trình hành nghề. Người được cấp chứng chỉ phải trực tiếp thực hiện công việc chuyên môn, chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước người bệnh, cơ sở kinh doanh dược và cơ quan quản lý nhà nước.

Theo quy định hiện hành, chứng chỉ hành nghề dược được cấp cho từng cá nhân và có tính chất định danh. Việc cấp chứng chỉ dựa trên hồ sơ cụ thể của người đề nghị cấp, bao gồm bằng cấp chuyên môn, thời gian thực hành, giấy khám sức khỏe và các điều kiện khác theo Luật Dược. Chính vì vậy, chứng chỉ không được chuyển nhượng, mua bán, cho thuê, cho mượn hoặc sử dụng thay cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào.

Pháp luật cũng quy định rõ những vị trí bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề dược, như:

  • Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của nhà thuốc, quầy thuốc hoặc cơ sở kinh doanh dược.
  • Người phụ trách bảo đảm chất lượng tại cơ sở sản xuất thuốc.
  • Người phụ trách dược lâm sàng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
  • Một số chức danh chuyên môn khác theo quy định của Luật Dược.

Nguyên tắc xuyên suốt của pháp luật là chứng chỉ hành nghề dược luôn gắn với chính người được cấp. Người chịu trách nhiệm chuyên môn phải trực tiếp có mặt để tổ chức, điều hành và giám sát hoạt động chuyên môn tại cơ sở. Nếu chỉ đứng tên trên giấy tờ nhưng không trực tiếp thực hiện trách nhiệm của mình thì đã vi phạm bản chất của chế định cấp chứng chỉ hành nghề.

Luật Dược năm 2016 đồng thời xác định việc thuê, mượn chứng chỉ hành nghề dược để kinh doanh hoặc cho thuê, cho mượn chứng chỉ của mình cho người khác sử dụng là hành vi bị nghiêm cấm. Quy định này nhằm bảo đảm mọi hoạt động bán thuốc, tư vấn sử dụng thuốc và quản lý chất lượng thuốc đều được thực hiện bởi người có đủ năng lực chuyên môn và đang trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Bên cạnh đó, cùng với việc triển khai hệ thống quản lý dữ liệu hành nghề dược trên phạm vi toàn quốc, việc quản lý chứng chỉ ngày càng được số hóa. Thông tin về người hành nghề, phạm vi hành nghề và quá trình sử dụng chứng chỉ được cập nhật trên hệ thống quản lý của cơ quan nhà nước, góp phần hạn chế tình trạng sử dụng chứng chỉ không đúng quy định.

 

2. Hành vi cho thuê, mượn chứng chỉ hành nghề dược là vi phạm pháp luật

Pháp luật Việt Nam không thừa nhận bất kỳ hình thức nào cho phép cá nhân cho thuê hoặc cho mượn chứng chỉ hành nghề dược để người khác sử dụng trong hoạt động kinh doanh dược.

Khoản 9 Điều 6 Luật Dược năm 2016 quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm:

  • Thuê, mượn chứng chỉ hành nghề dược hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược để kinh doanh.
  • Cho thuê, cho mượn hoặc để người khác sử dụng chứng chỉ hành nghề dược của mình để hành nghề.

Quy định này áp dụng đối với cả người cho thuê, người đi thuê và tổ chức sử dụng chứng chỉ không đúng quy định. Nói cách khác, tất cả các chủ thể tham gia vào giao dịch thuê, mượn chứng chỉ đều có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản chất của chứng chỉ hành nghề dược là giấy phép hành nghề mang tính cá nhân, không phải là tài sản có thể giao dịch trên thị trường. Việc ký kết các thỏa thuận như "hợp đồng thuê bằng", "hợp đồng đứng tên", "hợp đồng cộng tác viên" hoặc "hợp đồng tư vấn" chỉ nhằm che giấu việc cho thuê chứng chỉ sẽ không làm thay đổi bản chất vi phạm nếu trên thực tế người có chứng chỉ không trực tiếp thực hiện công việc chuyên môn.

Dưới góc độ pháp luật dân sự, những thỏa thuận này cũng không được pháp luật bảo vệ. Theo Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của luật thì vô hiệu. Do đó, nếu phát sinh tranh chấp về tiền thuê chứng chỉ hoặc quyền lợi giữa các bên thì Tòa án sẽ không công nhận hiệu lực của hợp đồng.

Việc cấm cho thuê chứng chỉ hành nghề dược xuất phát từ yêu cầu bảo đảm an toàn trong sử dụng thuốc. Nếu người đứng tên chịu trách nhiệm chuyên môn không trực tiếp quản lý hoạt động của nhà thuốc thì nguy cơ bán thuốc sai quy định, tư vấn không đúng chuyên môn hoặc lưu hành thuốc không bảo đảm chất lượng sẽ gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.

 

3. Mức xử phạt đối với hành vi cho thuê chứng chỉ hành nghề dược

Theo quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BYT năm 2026, hành vi cho thuê hoặc cho mượn chứng chỉ hành nghề dược có thể bị xử lý bằng nhiều hình thức khác nhau, không chỉ dừng lại ở việc phạt tiền.

Đối với cá nhân cho người khác sử dụng chứng chỉ hành nghề dược của mình để hành nghề, mức phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

Đối với cá nhân thuê hoặc mượn chứng chỉ hành nghề dược của người khác để thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc hành nghề, mức phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Nếu chủ thể vi phạm là tổ chức thì mức xử phạt tiền có thể gấp hai lần mức áp dụng đối với cá nhân theo nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính.

Ngoài tiền phạt, cơ quan có thẩm quyền còn có thể áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như:

  • Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề dược trong thời hạn theo quy định đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng.
  • Thu hồi chứng chỉ hành nghề dược trong trường hợp thuộc căn cứ thu hồi theo Luật Dược.
  • Tước giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược của cơ sở vi phạm nếu đủ điều kiện áp dụng.
  • Buộc nộp lại toàn bộ khoản lợi bất hợp pháp có được từ việc cho thuê hoặc sử dụng chứng chỉ trái quy định.

Trong thực tiễn thanh tra, cơ quan quản lý không chỉ xem xét hành vi cho thuê chứng chỉ mà còn kiểm tra việc người chịu trách nhiệm chuyên môn có thực sự làm việc tại cơ sở hay chỉ đứng tên trên hồ sơ. Nếu phát hiện việc sử dụng nhân sự "ảo", hồ sơ giả hoặc khai báo không trung thực thì cơ sở kinh doanh dược và cá nhân liên quan đều có thể bị xử lý đồng thời.

 

4. Hậu quả pháp lý khi sử dụng chứng chỉ hành nghề dược không đúng quy định

Việc sử dụng chứng chỉ hành nghề dược không đúng quy định có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng đối với cả cá nhân và cơ sở kinh doanh dược.

Trước hết, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, bị tước quyền sử dụng hoặc bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật Dược nếu thuộc trường hợp phải thu hồi.

Đối với cơ sở kinh doanh dược, việc sử dụng chứng chỉ của người không trực tiếp hành nghề có thể dẫn đến việc bị xử phạt, bị tước giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược hoặc buộc tạm dừng hoạt động trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng.

Nghiêm trọng hơn, nếu việc sử dụng chứng chỉ trái quy định dẫn đến sai sót trong hoạt động bán thuốc, cấp phát thuốc hoặc tư vấn sử dụng thuốc gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác thì cá nhân có liên quan có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 315 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác.

Ngoài trách nhiệm hình sự, người vi phạm còn có thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự nếu hành vi của mình gây thiệt hại cho người bệnh hoặc tổ chức, cá nhân khác.

Một hậu quả khác là ảnh hưởng lâu dài đến uy tín nghề nghiệp. Việc bị xử lý do cho thuê hoặc cho mượn chứng chỉ có thể ảnh hưởng đến quá trình hành nghề, cơ hội tuyển dụng, bổ nhiệm và hợp tác nghề nghiệp trong tương lai. Đồng thời, nếu chứng chỉ bị thu hồi do vi phạm nghiêm trọng thì người vi phạm chỉ được xem xét cấp lại khi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định của pháp luật sau thời gian luật định.

 

5. Các câu hỏi thường gặp về quản lý chứng chỉ hành nghề dược

Cá nhân có được cho thuê chứng chỉ hành nghề dược để người khác mở nhà thuốc không?

Không. Luật Dược nghiêm cấm việc cho thuê, cho mượn hoặc để người khác sử dụng chứng chỉ hành nghề dược của mình để hành nghề dưới mọi hình thức.

Nếu chỉ đứng tên trên giấy phép nhưng không trực tiếp làm việc tại nhà thuốc thì có vi phạm không?

Có. Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược phải trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo quy định. Việc chỉ đứng tên mà không trực tiếp quản lý vẫn có thể bị xử lý.

Hợp đồng thuê chứng chỉ hành nghề dược có được pháp luật công nhận không?

Không. Đây là giao dịch vi phạm điều cấm của luật nên không có giá trị pháp lý và không được Tòa án bảo vệ khi xảy ra tranh chấp.

Người chịu trách nhiệm chuyên môn được đứng tên cho nhiều nhà thuốc cùng lúc không?

Không. Pháp luật không cho phép một người đồng thời chịu trách nhiệm chuyên môn tại nhiều cơ sở hoặc nhiều địa điểm kinh doanh dược nếu không thuộc trường hợp pháp luật cho phép.

Dược sĩ vắng mặt trong thời gian ngắn phải làm gì?

Khi vắng mặt vì lý do chính đáng, dược sĩ cần thực hiện việc ủy quyền cho người đủ điều kiện theo đúng quy định và thực hiện nghĩa vụ thông báo với cơ quan có thẩm quyền trong các trường hợp pháp luật yêu cầu.

Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì cho thuê chứng chỉ hành nghề dược không?

Nếu hành vi cho thuê chứng chỉ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản thông qua hoạt động bán thuốc, cấp phát thuốc trái quy định thì cá nhân liên quan có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Làm thế nào để kiểm tra tính hợp pháp của chứng chỉ hành nghề dược?

Có thể tra cứu thông tin trên hệ thống quản lý hành nghề của cơ quan có thẩm quyền hoặc liên hệ Sở Y tế nơi cấp chứng chỉ để xác minh tình trạng hiệu lực của chứng chỉ hành nghề dược trước khi tuyển dụng hoặc ký kết hợp đồng làm việc.

Bên cạnh đó, quý bạn đọc cũng có thể xem thêm một số nội dung khác liên quan đến chứng chỉ hành nghề dược như: