1. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Một trong những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện thủ tục khởi tố vụ án hình sự là phải quy định rõ thẩm quyền giải quyết của các cơ quan và đề cao trách nhiệm, tính chủ động của Viện kiểm sát trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Trên cơ sở đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gắn với thẩm quyền điều tra. Cụ thể là, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình. Nhằm bảo đảm nguyên tắc “phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực”, Bộ luật quy định Viện kiểm sát chủ yếu thực hiện trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; tuy nhiên, khi có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, Bộ luật quy định Viện kiểm sát phải trực tiếp xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong 02 trường hợp:

Thứ nhất, trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

Thứ hai, trường hợp phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục (Điều 145).

 

2. Trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

Theo Điều 5 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC:

- Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm:

  • Cơ quan điều tra;
  • Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Viện kiểm sát các cấp;
  • Các cơ quan, tổ chức quy định tại điểm b khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm: Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác.

- Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm:

+ Các cơ quan quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch 01, trừ Đội An ninh ở Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Đội An ninh Công an cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình.

+ Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục.

 

3. Trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết kiến nghị khởi tố

Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC có quy định:

- Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình.

- Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận mọi kiến nghị khởi tố và chuyển ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết.

Viện kiểm sát giải quyết kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết kiến nghị khởi tố nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục.

 

4. Các biện pháp kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Liên quan đến các biện pháp kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trong Chương VIII quy định về khởi tố vụ án hình sự của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không có các quy định này, nhưng trong giai đoạn điều tra vụ án, đối với một số biện pháp điều tra, Bộ luật sử dụng kỹ thuật lập pháp “biện pháp này có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự". Tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cho thấy, cách quy định như vậy chưa bảo đảm tính khoa học trong kỹ thuật lập pháp; mặt khác, với ý nghĩa là một giai đoạn tố tụng, rất cần thiết quy định những biện pháp tố tụng được phép tiến hành trong giai đoạn khởi tố. Nhằm khắc phục những hạn chế của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, tạo thuận lợi cho thực tiễn áp dụng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung và quy định rõ các biện pháp xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, gồm: thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; trưng cầu giám định; yêu cầu định giá tài sản (Điều 147).

Do nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm làm căn cứ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự nên Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định việc triệu tập và dẫn giải người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, trên thực tế, một số cơ quan tố tụng vẫn triệu tập những người này để xác minh nguồn tin. Quá trình soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự, có ý kiến cho rằng cần tiếp tục kế thừa quy định hiện hành, không quy định việc triệu tập và dẫn giải người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Trên cơ sở cân nhắc các mặt, một mặt, bảo đảm sự phản ứng nhanh chóng của các cơ quan tố tụng đối với những thông tin tội phạm, mặt khác, bảo đảm chặt chẽ, tránh lạm dụng làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cho phép triệu tập người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố để thu thập thông tin, đồng thời, quy định chặt chẽ việc dẫn giải họ chỉ được thực hiện khi qua kiểm tra, xác minh đã có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan (Điều 127).

 

5. Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Theo thông tư liên tịch 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP:

- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, phân công Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc quyền thụ lý, giải quyết hoặc ra Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra tổ chức, chỉ đạo thụ lý, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu của tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết, cấp trưởng Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trực tiếp chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, phân công Cán bộ điều tra thuộc quyền hoặc ra Quyết định phân công cấp phó trong việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Đối với tố giác, tin báo về tội phạm sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu của tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì cấp trưởng ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

- Kết thúc quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan đã thụ lý, giải quyết phải ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều 148, Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

 

6. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều 159, Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch này, Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản cho Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã rõ về dấu hiệu của tội phạm mà Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự thì Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & Biên tập)