1. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng hành chính

Nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong Tố tụng hành chính là một nguyên tắc được hình thành dựa trên cơ sở Hiến pháp cụ thể được xây dựng dựa trên Điều 8 Hiến pháp năm 2013, như sau:

Điều 8.

1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”.

Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 4 Luật tố tụng hành chính, nội dung chủ yếu của nguyên tắc xác định mọi hành vi tố tụng hành chính của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hành chính và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân thủa theo các quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Tuân thủ pháp luật là một nguyên tắc cơ bản chi phối toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta.

2. Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Xét xử các vụ án hành chính là hoạt động của Tòa án có thẩm quyền, dựa trên các cơ sở của pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật để có thể đưa ra một phán quyết về một vụ án hành chính cụ thể. Và để cho phán quyết này của Tòa án được đúng đắn, đảm bảo cho sự khách quan, vô tư, không bị lệ thuộc vào bất cứ sự tác động của cơ quan, tổ chức nào. Do đó Luật tố tụng hành chính đã quy định về nguyên tắc Thẩm phám và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhận dân được thể hiện như sau:

- Sự độc lập giữa các thành viên Hội đồng xét xử. Trong mỗi vụ án hành chính, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân là những người thường không được đào tạo bài bản về luật và cũng không được đào tạo bởi các nghiệp vụ xét xử, điều đó thể hiện được tính dân chủ của hoạt động tư pháp trong việc xét xử các vụ án hành chính và là điều kiện để đảm bảo cho các phán quyết của Tòa án vừa đảm bảo tính hợp pháp vừa có thể phù hợp với thực tiễn của đời sống.

- Sự độc lập của Hội đồng xét xử với các cơ quan khác trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính.

- Sự độc lập của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân với các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước khác. Ở khía cạnh này việc xét xử độc lập được bao hàm bởi một phần nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan của những người tiến hành tố tụng trong việc xét xử vụ án hành chính. Nếu trong trường hợp có căn cứ để chứng minh rằng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân có các hành vi không vô tư trong hoạt động xét xử, thì những người này buộc phải từ chối xét xử vụ án hành chính mà họ đang đảm nhận goặc bị thay đổi xét xử vụ án hành chính.

3. Nguyên tắc xét xử công khai vụ án hành chính

Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 16 Luật tố tụng hành chính năm 2015 và là một nguyên tắc quan trọng trong Luật tố tụng hành chính. Chỉ những trường hợp đặc biệt cần phải giữ bí mật nhà nước, các thuần phong, mỹ tục của dân tộc và bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ các bí mật về nghề nghiệp, cá bí mật về kinh doanh theo yêu cầu của các đương sự thì Tòa án mới xem xét và đưa ra quyết định xét xử kín vụ án hành chính.

Mọi công dân từ đủ 18 tuổi đều có quyền tham dự các phiên Tòa hành chính và nguyên tắc xét xử công khai không chỉ áp dụng cho xét xử sơ thẩm các vụ án mà còn áp dụng đối với cả xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Tất cả diễn biến trong tố tụng đều phải được ghi rõ trong biên bản phiên tòa và ngay trong trường hợp vụ án được xử kín thì khi tuyên án vẫn phải công khai.

4. Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 11 Luật tố tụng hành chính năm 2015 và được quy định cụ thể với những nội dung như sau:

Điều 11. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện danh sách cử tri.

Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Luật này.

Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của Luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”.

Việc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm là một nguyên tắc rất quan trọng bởi các lý do sau:

- Cơ chế này nhằm bảo đảm việc xét xử hành chính luôn đúng pháp luật. Và trên thực tiễn, chắc chắn không tránh khỏi những tình huống mà tòa án cấp sơ thẩm, vì nhiều lý do khác nhau, có thể đưa ra quyết định sai lầm hoặc chưa thực sự phù hợp với tình tiết của vụ án.

- Đây là một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự - trong các trường hợp khẩn cấp Tòa án sơ thẩm đưa ra bản án hay quyết định sai lầm, gây thiệt hại cho đương sự. Do đó Luật tố tụng hành chính đưa ra các quy định về quyền kháng cáo để xử lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm chính là cơ hội còn lại mà pháp luật dành cho các đương sự - sau khi vụ án hành đã được xét xử ở cấp sơ thẩm để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

5. Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng hành chính

Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật tố tụng hành chính năm 2015, cụ thể với những nội dung cơ bản sau:

- Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá không được tiến hành, tham gia tố tụng nếu có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

- Việc phân công người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để họ vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

6. Nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp

Nguyên tắc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là cơ chế bảo đảm hữu hiệu nhất cho các quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Trong các trường hợp có sự vi phạm dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án – thiết chế xét xử chuyên nghiệp và có quyền phán quyết cuối cùng đứng ra để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Nếu như Luật tố tụng hành chính không đặt ra vấn đề này thì việc ghi nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân sẽ không có nhiều giá trị trên thực tiễn.

Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong tố tụng hành chính thể hiện dưới các gốc độ sau:

- Cá nhân, tổ chức nếu có quyền và lợi ích bị xâ phạm đều có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

- Để đảm bảo quyền yêu cầu Tòa án đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Điều 117 Luật tố tụng hành chính quy định: Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án hành chính;...

- Tòa án có nghĩa vụ xem xét, giải quyết yêu cầu của người khởi kiện. Trong trường hợp người khởi kiện đã thực hiện quyền khởi kiện một cách hợp pháp, đúng thẩm quyền thì Tòa án không có quyền từ chối xét xử. Mọi hành vi trốn tránh nghĩa vụ xét xử của Tòa án đều vi phạm pháp luật và các chủ thể thực hiện hành vi đó phải bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

7. Nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện

Nguyên tắc bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện trong tố tụng hành chính được quy định tại Điều 8 Luật tố tụng hành chính năm 2015, cụ thể như sau:

Điều 8. Quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án hành chính. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng khác của mình theo quy định của Luật này”.

Dựa theo quy định được nêu ở trên thì nguyên tắc này bao gồm các nội dung cụ thể như sau:

- Người khởi kiện có quyền tự quyết định về việc khởi kiện vụ án hành chính. Không có bất kỳ một cơ quan hay tổ chức nào thay mặt người khởi kiện thực hiện quyền này cả. Trường hợp nếu có người đại diện đứng ra khởi kiện vụ án hành chính thì phải xuất phát từ sự tự nguyên của người khởi kiện.

- Người khởi kiện có quyền tự quyết định các yêu cầu khởi kiện của mình, và Tòa án chỉ xét xử dựa trên các yêu cầu của người khởi kiện.

- Người khởi kiện có quyền quyết định rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện hoặc thực hiện các quyền tố tụng khác của mình theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc này là một nguyên tắc đặc thù của ngành luật tố tụng hành chính, nguyên tắc này không tồn tại trong Luật tố tụng hình sự và cũng khác với nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.

8. Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 19 Luật tố tụng hành chính năm 2015, cụ thể như sau:

- Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hoặc người khác có đủ điều kiện theo quy định của Luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

- Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.

- Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính.

 Luật Minh Khuê