1. Các quy định về xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh

Mặc dù có thể tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau nhưng các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh là di sản văn hoá Việt Nam và là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và đều cần được bảo vệ và phát huy giá trị nhằm phục vụ lợi ích của chù sở hữu và của cộng đồng. Để bảo đảm quá trình bảo vệ và phát huy giá trị theo quy định của Luật di sản văn hoá và các văn bản có liên quan, các khu vực và địa điểm có những giá trị tiêu biểu theo quy định tại Điều 28 Luật di sản văn hoá phải được xem xét, kiểm kê, phân loại và xếp hạng. Căn cứ Luật di sản văn hoá 2001, 2009 (Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 54, Điều 55), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Giám đốc sở văn hoá, thể thao và du lịch, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tình, Bộ trưởng Bộ văn hoá, thể thao và du lịch, Thủ tướng Chính phủ) sẽ xem xét, kiểm kê, phân loại và xếp hạng di tích. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định công nhận di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích) là di tích cấp tỉnh (là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương), di tích quốc gia (là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia) và di tích quốc gia đặc biệt (là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia - Xem: Điều 29 Luật di sản văn hoá).

Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn có xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định huỷ bỏ xếp hạng di tích đó (Xem: Khoản 2 Điều 30 Luật di sàn văn hoá).

2. Các quy định chung bảo vệ di sản văn hoá vật thể

Các quy định nhằm bảo vệ di sản văn hoá bao gồm những quy định nhằm xác định chủ sở hữu di sản; trách nhiệm của chù sở hữu, của cộng đồng và Nhà nước trong việc bảo vệ di sản; những quy định nhằm bảo đảm hài hoà giữa các lợi ích khác nhau đối với di sản, đặc biệt là bảo đảm lợi ích của chủ sở hữu và người có công phát hiện di sản. Nếu nhóm lợi ích của những đối tượng này không được bảo đảm, di sản rất khó có thể được bào vệ một cách có hiệu quả.

Một tài sản "vô chủ" và ai cũng có quyền khai thác, sử dụng theo ý muốn chù quan của mình sẽ nhanh chóng bị giảm giá trị và có thể dẫn tới bị huỷ hoại. Các tài sàn, các thành phần môi trường, trong đó có di sản văn hoá vật thể, chỉ có thể được bảo vệ một cách tốt nhất khỉ xác định được chù sở hữu cụ thể. Các chủ sở hữu, vì lợi ích của mình, sẽ tiến hành những biện pháp bảo vệ tài sản phù hợp. Luật di sản văn hoá 2001, 2009 ghi nhận các hình thức sở hữu di sản văn hoá gồm: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu chung cùa cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác theo quy định của pháp luật. Những di sản văn hoá tồn tại dưởi lòng đất thuộc lãnh thổ Việt Nam và những di sản văn hoá phát hiện được mà không xác định được chủ sở hữu đều thuộc sở hữu nhà nước. Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hoá (Xem: Điều 5,6,7,9 Luật di sản văn hoá).

Như vậy, mọi di sản văn hoá vật thể tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam, thông qua các quy định này, đều đã được xác định chủ sở hữu, là người quản lí, bào vệ di sàn. Đối với những quần thể di sản văn hoá vật thể (di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh) thuộc sở hữu nhà nước, Nhà nước phải giao cho cơ quan quản lí nhà nước, tổ chức, cá nhân cụ thể thực hiện chức năng quản lí bảo vệ. Nếu những di sản này được xác định thuộc sở hữu nhà nước nhưng không có cơ quan, tổ chức cụ thể chịu ttách nhiệm quản lí, bảo vệ thì di sản có thể ttở thành "vô chủ" và điều chắc chắn xảy ra là di sản sẽ xuống cấp và bị huỷ hoại.

Các hình thức sở hữu đối với di sản bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu của cộng đồng, cơ sở tôn giáo và tư nhân. Việc áp dụng các biện pháp quản K, bảo vệ có sự kết hợp giữa các biện pháp bảo vệ của chủ sở hữu và các biện pháp bảo vệ của Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế, những biện pháp trực tiếp nhằm bảo vệ di sản, đặc biệt là các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, đều do chủ sở hữu thực hiện. Những di tích như dinh, đền, chùa (như chùa Tây phương, chùa Thầy...) đều do cộng đồng dân cư quản lí, bảo vệ. Đối với những di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước quản lí, có thể do cơ quan nhà nước thực hiện (ban quản lí di tích) hoặc có sự kết hợp giữa sự quản lí cùa cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền (không thành lập ban quản lí) với sự quản lí của cộng đồng dân cư hoặc cơ sở tôn giáo. Việc xác định đổi tượng quản lí, bảo vệ cụ thề được quy định trong quyết định công nhận di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh.

Do di sản văn hoá vật thể là loại tài sản đặc biệt nên chủ sở hữu không chi có những quyền và nghĩa vụ về tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự mà còn có những quyền và nghĩa vụ đậc biệt theo quy định của pháp luật di sản văn hoá. Chủ sở hữu có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá. Trách nhiệm này không chỉ xuất phát từ lợi ích của chủ sở hữu mà nó còn xuất phát từ lợi ích của cộng đồng, lợi ích trước mắt và lâu dài của xã hội. Khi thực hiện những biện pháp bảo vệ, tu bổ và phục hồi di tích, chủ sở hữu phải lập dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải thực hiện theo phương án bảo vệ, tu bổ và phục hồi đã được phê duyệt (Xem: Các điều 15,34, 35 Luật di sản văn hoá 2001,2009). Trong trường hợp di sản có nguy cơ bị làm sai lệch giá trị, bị huỷ hoại, bị mất, chủ sở hữu có trách nhiệm thông báo với uỷ ban nhân dân địa phương hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hoá, thể thao và du lịch để các cơ quan này áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ. Trong trường hợp này, chủ sở hữu có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước thực hiện những biện pháp ngăn chặn, bảo vệ di sản (Xem: Khoản 2 Điều 9, Điều 33 Luật di sản văn hoá). Di sản văn hoá vật thể ngoài chức năng thoả mãn nhu cầu của chủ sở hữu còn có chức năng thoả mãn những nhu cầu khác của cộng đồng, của Nhà nước. Đổi lại, Nhà nước và cộng đồng phải có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể. Vì vậy, trong trường hợp cần áp dụng những biện pháp bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Được quy định tại Điều 17 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá) tiến hành lập dự án và thực hiện dự án đầu tư nhằm thực hiện các biện pháp bảo vệ di tích. Các quy định này đã tạo ra cơ chế kết hợp giữa trách nhiệm, lợi ích của chủ sở hữu và trách nhiệm, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng, của xã hội trong quá trình thực hiện các biện pháp bảo vệ di sản văn hoá vật thể. Nhà nước có ưách nhiệm chia sẻ chi phí phục vụ cho công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di sản. Việc bảo đảm kinh phí cho các hoạt động này thuộc ttách nhiệm của Bộ kế hoạch và đầu tư và Bộ tài chính (Xem: Điều 40, 41 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá). Tuy nhiên, để bảo đảm tính hiệu quả trong quá trình thục hiện các biện pháp bảo quản, tu bổ và phục hồi di sản, pháp luật cần quy định cụ thể cơ chế chia sẻ ttách nhiệm tài chính giữa Nhà nước và chủ sở hữu (trong trường hợp di sản không thuộc sở hữu toàn dân) trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo vệ di sản.

Ngoài trách nhiệm đầu tư trực tiếp cho công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, Nhà nước thực hiện những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ di sản như đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác bảo vệ di sàn, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ di sản của nhân dân, có những chính sách khuyến khích tổ chức cá nhân thực hiện các biện pháp bảo vệ dĩ sản… (Xem: Điều 9 Luật di sản văn hoá).

Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bào vệ di sản như thông báo kịp thời địa đỉểm phát hiện di sản, giao nộp cho cơ quan nhà nước di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do mình tìm được, ngăn chặn hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngăn chặn, Xử lý kịp thời những hành vi phá hoại, chiếm đoạt, sử dụng trái phép di sản văn hoá... Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ di sản được Nhà nước khen thưởng về vật chất và tinh thần (Xem: Các điều 10, 24, 15 Luật di sản văn hoá; các điều 52, 53, 54 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá).

3. Các quy định cụ thề bảo vệ di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh

Các quy định bào vệ di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh bao gồm các nhóm quy định khi phát hiện di tích; quy định nhằm xác định khu vực và mức độ bảo vệ đối với từng khu vực; nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của con người thực hiện ở trong và ngoài khu vực di tích.

- Các quy định nhằm xác định khu vực bảo vệ di tích

Việc xác định những khu vực với những cấp độ bảo vệ khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong quá trình bảo vệ những giá trị lịch sử - văn hoá và môi trường của di tích. Các hoạt động của con người ở những khu vực này phải tuân thủ những quy định của pháp luật di sản văn hoá.

Đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh và bản thân di tích đã xếp hạng hoặc được uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định bảo vệ thì phải được quản lí và bảo vệ nghiêm ngặt (Xem: Điều 98 Luật đất đai năm 2003; khoản 1 Điều 8 Luật di sản văn hoá). Để quản lí bảo vệ có hiệu quả di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh cần xác định ranh giới rõ ràng giữa khu vực có di tích và khu vực không thuộc di tích, khu vực bảo vệ nguyên trạng và khu vực có thể xây dựng những công trình phục vụ cho việc phát huy giá trị di tích trong hồ sơ di tích và trên thực đỉa gồm: Khu vực I (khu vực chứa những yếu tố nguyên gốc của di tích), khu vực n (là vùng đệm để bào vệ cảnh quan và môi trường - sinh thái của di tích) v,à khu vực ngoài di tích nhưng có thể ảnh hưởng tới di tích. Tuy nhiên, phù hợp với điều kiện thực tế địa bàn và sự phân bố các công trình thuộc di tích (ví dụ như di tích nằm ưong khu vực dân cư hoặc liền kề các công trình xây dựng không thể di rời), Thủ tướng Chính phủ, Bộ văn hoá, thể thao và du lịch hoặc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể xác định di tích chỉ có khu vực I.

Khu vực bảo vệ I và khu vực bảo vệ II là những diện tích thuộc đất di tích được quy định tại Điều 98 Luật đất đai năm 2003 và luật đất đai năm 2013, được thể hiện trong bản đồ địa chính kèm theo biên bản khoanh vùng bảo vệ và được cơ quan quản lí nhà nước về đất đai xác nhận. Khu vực "ngoài di tích có ảnh hưởng tới di tích" được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong biên bản khoanh vùng và bản đồ địa chính các khu vực bảo vệ di tích và phải được công bố công khai.

Đối với danh lam thắng cảnh thì việc xác định khu vực bảo vệ I phải bào đảm tính toàn vẹn của cảnh quan thiên nhiên, địa hình, địa mạo và các yếu tố địa lí khác chứa đựng sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái đậc thù hoặc các dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.

- Quy định nhằm bảo vệ di tích trước những hoạt động của con người

Con người có thể tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực tới di tích thông qua các hoạt động như sử dụng di tích, trùng tu cải tạo không theo đúng yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, xây dựng công trình làm ảnh hưởng đến di tích.

Pháp luật nghiêm cấm việc thực hiện những hành vi làm ảnh hưởng đến di tích (Xem: Điều 13 Luật di sản văn hoá; Điều 7 Luật bảo vệ môi trường năm 2005luật bảo vệ môi trường năm 2014) sau đây:

- Chiếm đoạt, làm sai lệch di tích;

- Huỷ hoại hoặc gây nguy cơ huỷ hoại di tích;

- Xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích;

- Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích để thực hiện hành vi trái pháp luật

Các hoạt động, kể cả hoạt động trùng tu, tôn tạo, được thực hiện tại khu vực I không được làm ảnh hưởng tới tính nguyên trạng của di tích. Trường hợp đặc biệt có yêu cầu xây dựng công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, việc xây dựng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền xếp hạng di tích đó.

Tại khu vực n, có thể xây dựng những công trinh phục vụ cho việc phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng tới kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích. Việc xây dựng các công trình này phải có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ văn hoá, thể thao và du lịch (đối với di tích cấp quốc gia) hoặc Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối với di tích cấp tỉnh - Xem: Khoản 2 Điều 32 Luật di sản văn hoá).

Dự án xây dựng, cải tạo ngoài khu vực bảo vệ di tích nhưng có khả năng ảnh hưởng đến di tích phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (giám đốc sở văn hoá, thể thao và du lịch hoặc Bộ ttưởng Bộ văn hoá, thể thao và du lịch) thẩm định (Xem: Điều 36 Luật di sản văn hoá; Điều 18 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá và Xem: Điêu 3 Luật du lịch). Các quy định hiện hành chỉ quy định khi phê duyệt dự án "xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích..." thì phải có ý kiến thẩm định của cơ quan quản lí nhà nước về văn hoá. Để loại trừ những khó khăn cả cho cơ quan nhà nước cũng như chủ dự án đầu tư, pháp luật cũng cần quy định những tiêu chí nhằm xác định ranh giới giữa những hoạt động cần và không cần thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hoá trong hoạt động thẳm định và thực hiện dự án đầu tư tại khu vực "ngoài di tích có ảnh hưởng tới di tích".

Nhiều di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh cũng đồng thời là các địa điểm nghỉ ngơi, du lịch... Thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường tại các địa đỉểm này không chỉ bảo đảm cho ngành du lịch phát triển theo hướng "du lịch văn hoá, du lịch sinh thái" mà còn góp phần quan trọng ưong việc giữ gìn, tôn tạo, phát triển các di tích lịch sử - văn hơá, danh lam thắng cảnh. Nghĩa vụ bảo vệ môi trường của tổ chức và cá nhân trong hoạt động du lịch tại các địa điểm là di tích lịch sử - văn hoá danh lam thắng cảnh được quy định tại các văn bản pháp luật về bảo vệ di sản, du lịch và bảo vệ môi trường (Xem: Luật di sản văn hoá; Pháp lệnh du lịch ngày 8/2/1999; Luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành...). Trên cơ sở các quy định này, cơ quan quản lí di tích ban hành nội quy của di tích. Khi thực hiện các hoạt động tham quan, du lịch, tổ chúc và cá nhân phải tuân thủ nội quy của di tích và không được làm ảnh hưởng tới các giá trị, cảnh quan của di tích.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)