- 1. Thuế quan
- 2. Các biện pháp hạn chế định lượng.
- 2.1. Cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Prohibitions)
- 2.2. Hạn ngạch (quotas)
- 2.3. Hạn ngạch thuế quan (Tariff Rate Quota-TRQ)
- 2.4. Giấy phép nhập khẩu (import licences)
- 2.5. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện và thoả thuận về thị trường:
- 3. Các biện pháp có tác dụng tương đương
Luật Minh Khuê xin cung cấp một số vấn đề pháp lý về các biện pháp thuế quan và hạn chế định lượng trong khuôn khổ WTO nhằm giúp các doanh nghiệp nắm rõ, tránh những rủi ro không đáng có:
1. Thuế quan
Thuế quan là lĩnh vực quan trọng được cộng đồng thương mại quốc tế quan tâm, WTO và các khối liên kết kinh tế quan tâm quy định tương đối chi tiết để áp dụng trong lĩnh vực thương mại hàng hóa. Thuế quan được hiểu là khoản thu của nhà nước tính vào hàng hóa khi hàng hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác, nhằm tăng nguồn thu ngân sách quốc gia và bảo hộ hàng hóa tương tự, ngành kinh tế hàng hóa tương tự trong nước. Thuế quan cũng còn được hiểu là danh mục thuế quan, tức là danh mục HS quốc gia được xây dựng trên cơ sở danh mục HS quốc tế mà trong đó trên mỗi dòng HS quốc gia có ghi rõ các mức thuế suất nhập khẩu cụ thể của mỗi dòng HS (Dòng thuế quan). Những vấn đề quan trọng liên quan tới thuế quan mà các nước thường quan tâm bao gồm danh mục thuế quan, mức thuế trần và lộ trình giảm thuế quan. Về các vấn đề này cần chú ý:
Thứ nhất đối với danh mục thuế quan, mỗi nước có danh mục thuế quan của riêng mình và được công bố rộng rãi cho mọi người liên quan thực hiện. WTO từ khi thành lập đã có hơn 22.500 trang danh mục thuế quan cam kết của các nước đối với một số loại hàng hóa cụ thể được thỏa thuận trong khuôn khổ WTO, nhất là các cam kết giảm thuế và mức thuế trần đối với hàng hóa nhập khẩu, ASEAN/AFTA cũng có danh mục thuế quan cam kết của các nước thành viên, trong đó có danh mục cam kết của Việt Nam cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ thỏa thuận CEPT/AFTA. Nhìn chung, trong các danh mục thuế quan này, trong một số trường hợp, thuế quan được giảm xuống bằng không.
Thứ hai, đối với mức thuế "trần", các danh mục mở cửa thị trường không chỉ đơn giản là những barem về thuế quan. Chúng chính là cam kết không tăng thuế vượt quá mức đã được xác định được gọi là mức "trần", thường là mức thuế đang được áp dụng trên thực tế. Có nhiều mức thuế "trần" khác nhau. Đa số các nước đang phát triển thường có mức thuế "trần" cao hơn một chút so với các nước mức thuế đang áp dụng.
Luật thương mại quốc tế có quy định ngoại lệ đối với quy tắc nói trên tức có thể chấp nhận cho phép một nước có thể phá bỏ mức thuế trần. Nhưng để làm được điều này, nước đó phải đàm phán với các nước liên quan và có thể bị buộc phải bồi thường thiệt hại thương mại cho các đối tác liên quan.
Thứ ba, về lộ trình giảm thuế quan, kết quả vòng đàm phán Uruguay về việc thành lập WTO cho thấy các nước phát triển chấp nhận giảm từng bước hàng rào thuế quan trong vòng 5 năm kể từ ngày 1/1/1995. Ngày 26 tháng 3 năm 1997, trong khuôn khổ WTO, 40 nước chiếm hơn 92% giá trị buôn bán toàn cầu các sản phẩm công nghệ thông tin đã thỏa thuận giảm thuế nhập khẩu và các loại thuế khác đánh vào các sản phẩm này đến năm 2000 (đến năm 2005 đối với một số ít trường hợp). Mỗi nước tham gia thỏa thuận phải áp dụng thống nhất cam kết của mình đối với hàng hóa nhập khẩu của tất cả các nước thành viên WTO, phù hợp với nguyên tắc tối huệ quốc.
Có một thời gian dài thuế quan và các hạn chế định lượng là công cụ chính sách thương mại chủ yếu của các nhà hoạch định chính sâch quốc gia. Thuế quan có tác dụng kép, vừa để tăng nguồn thu, vừa để giúp thực hiện một só mục tiêu về chính sách nội địa: trong trường hợp như thuế nhập khẩu bảo vệ nhà sản xuất trong nước và thuế xuất khẩu nhằm đảm bảo an toàn về cung cấp của một số nguồn lực khan hiếm trong nước. Biện pháp hạn chế định lượng từng là một công cụ hiệu nghiệm để đạt một số mục tiêu về chính sâch.
Trong khi thuế nhập khẩu cao có tác dụng làm nản chí các nhà sản xuất nước ngoài vì tăng giá sản phẩm của họ tại nước nhập khẩu, thì hạn ngạch hoặc giới hạn tổng khối lượng nhập khẩu có thể ngăn chặn một cách có hiệu quả việc nhập khẩu một sản phẩm nào đó.
Trong một số trường hợp cả hai công cụ trên được áp dụng đồng thời. Chẳng hạn một quốc gia có thể quyết định cho một mặt hàng nhập khẩu nào đó được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi với giới hạn khối lượng nhập khẩu nhất định, lượng hàng nhập khẩu vượt qua giới hạn đó sẽ bị đánh thuế ở mức MFN (được gọi là hạn ngạch thuế quan). Trong ngành nông nghiệp, hạn chế định lượng nhập khẩu thường được điều chỉnh tương ứng với giai đoạn thu hoạch các sản phẩm trong nước.
2. Các biện pháp hạn chế định lượng.
WTO quy định ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại phí khác, các thành viên không được tạo ra hay duy trì những biện pháp như hạn ngạch, giấy phép hay các biện pháp khác nhằm hạn chế số lượng nhập khẩu từ những thành viên khác, hay hạn chế số lượng xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu tới các thành viên khác. Đó là các biện pháp hạn chế định lượng:
2.1. Cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Prohibitions)
Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế. Trong thương mại quốc tế có nhiều trường hợp cấm nhập khẩu như: cấm hoàn toàn, cấm theo mùa, cấm tạm thời, cấm vận, cấm sản phẩm nhạy cảm, tạm dừng cấp phép nhập khẩu…. WTO yêu cầu không được phép áp dụng, nếu không có lý do chính đáng. Tuy nhiên, các thành viên có thể thi hành các biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu trong một số trường hợp ngoại lệ sau:
– Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia, phục vụ lợi ích công cộng
+ Việt Nam cấm nhập khẩu vũ khí, đạn dược nhằm mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, cấm nhập khẩu hóa chất độc, phế liệu, phế thải nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường. Những biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu như vậy được coi là ngoại lệ phù hợp với quy định của WTO.
+ Trước đây Việt Nam cấm nhập khẩu thuốc lá điếu và xì gà với lý do hạn chế hút thuốc lá nhằm bảo vệ sức khỏe con người trong khi vẫn cho phép sản xuất thuốc lá trong nước, do đó các thành viên WTO cho rằng quy định cấm nhập khẩu thuốc lá này là nhằm mục đích bảo hộ ngành sản xuất thuốc lá trong nước và không được coi là ngoại lệ. Vì vậy, để gia nhập WTO, Việt Nam đã phải cam kết bãi bỏ quy định này.
– Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội; bảo vệ con người, động vật và thực vật; bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm; bảo vệ các tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ, với điều kiện là các biện pháp này cần phải thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng nội địa liên quan tới chúng; và liên quan tới nhập khẩu hay xuất khẩu vàng bạc
– Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác; Cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay qui định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế.
2.2. Hạn ngạch (quotas)
Hạn ngạch là quy định quản lý thương mại hạn chế về số lượng hoặc trị giá nhập khẩu một mặt hàng nào đó từ một thị trường trong một thời gian có thể xác định hoặc không xác định cụ thể. Có nhiều loại hạn ngạch khác nhau như: hạn ngạch toàn cầu, hạn ngạch song phương, hạn ngạch theo mùa, hạn ngạch đối với sản phẩm nhạy cảm, hạn ngạch xuất khẩu (liên quan đến giảm bớt sự khan hiếm lương thực hay nguồn nguyên liệu nào đó…), hạn ngạch liên quan đến bán hàng hoá trong nội địa…
2.3. Hạn ngạch thuế quan (Tariff Rate Quota-TRQ)
Đối với các sản phẩm nông nghiệp (Phụ lục I, Hiệp định Nông nghiệp) có thể áp dụng một hình thức hạn ngạch đặc biệt gọi là hạn ngạch thuế quan.
Để đảm bảo mở cửa thị trường ở mức độ nhất định, WTO cho phép áp dụng biện pháp TRQ. TRQ cho phép sử dụng hai mức thuế suất, một mức thấp cho khối lượng trong hạn ngạch, mức thứ hai có thể cao hơn cho nhập khẩu ngoài hạn ngạch. Hạn ngạch có thể được tính bằng mức chênh lệch giữa tiêu dùng và sản xuất trong nước. Việc quản lý TRQ tuy khó khăn nhưng sẽ đáp ứng được người tiêu dùng muốn sử dụng hàng nhập khẩu giá rẻ, đồng thời bảo vệ được người sản xuất trong nước.
2.4. Giấy phép nhập khẩu (import licences)
Giấy phép nhập khẩu được xác định như là các thủ tục hành chính được sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để được phép nhập khẩu.
Tuy nhiên, thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép không được bóp méo thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục đó. Các qui tắc đối với thủ tục cấp phép nhập khẩu phải được áp dụng trung lập (neutral) và được quản lý theo một cách thức công bằng và hợp lý.
Mặt khác, cần phải công khai các thông tin liên quan tới thủ tục nộp đơn, tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu, cơ quan tiếp nhận, danh sách các sản phẩm đòi hỏi giấy phép trong thời hạn 21 ngày trước khi chúng có hiệu lực. Người nộp đơn chỉ cần tiếp cận tới một cơ quan hành chính. Trường hợp đặc biệt không được quá ba cơ quan. Nhà nhập khẩu hàng cần giấy phép có thể tiếp cận ngoại tệ cần thiết trên cùng một cơ sở với hàng nhập khẩu không cần giấy phép.
– Cấp phép nhập khẩu tự động: khi tất cả đơn đều được chấp thuận, không hạn chế khối lượng nhập khẩu trong phạm vi điều chỉnh, không đặt ra hạn chế với nhà nhập khẩu, được chấp thuận trong vòng 10 ngày.
– Cấp phép nhập khẩu không tự động: là thủ tục cấp phép không phải là cấp phép tự động. Cấp phép không tự động không được gây ra hạn chế hay bóp méo thương mại hơn mức các điều kiện do yêu cầu cấp phép đặt ra. Các thủ tục cấp phép không tự động cần phải tương ứng về phạm vi và thời hạn với biện pháp mà chúng được sử dụng để thực hiện, và sẽ không đặt ra những gánh nặng hành chính hơn mức cần thiết để quản lý biện pháp đó. Trong trường hợp đòi hỏi cấp phép không vì mục đích quản lý số lượng, các thành viên phải công bố đầy đủ thông tin về cơ sở để cấp phép.
2.5. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện và thoả thuận về thị trường:
Trước 1995 do GATT cấm sử dụng hạn ngạch nhập khẩu, nên một số nước đã sử dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu "tự nguyện”. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một thoả thuận song phương giữa hai chính phủ. Nước xuất khẩu giới hạn xuất khẩu một số sản phẩm nhất định tới nước nhập khẩu. Chính phủ xuất khẩu hoặc chính các nhà xuất khẩu quản lý thoả thuận này.
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện từng là một công cụ quan trọng hạn chế thương mại và đã được sử dụng khá rộng rãi. Trong khi hạn ngạch được áp dụng chung thì hạn chế xuất khẩu tình nguyện chỉ áp dụng với một số nước xuất khẩu chủ yếu, do đó tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các thành viên và rõ ràng vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc (MFN).
Mỗi thành viên không được tìm kiếm, thực hiện hay duy trì bất cứ thoả thuận hạn chế xuất khẩu, thoả thuận về thị trường nào hay bất cứ biện pháp tương tự khác lên phía xuất khẩu hay nhập khẩu. Điều này bao gồm các hành động do một thành viên thực hiện riêng rẽ cũng như các hành động do hai thành viên trở lên thực hiện.
3. Các biện pháp có tác dụng tương đương
Các hiệp định thương mại khu vực thường sử dụng cụm từ : “các biện pháp có hiệu quả tương đương” khi nói đến thuế quan hay hạn chế định lượng. Đằng sau khái niệm này, sự loại bỏ thuế quan hay hạn chế định lượng không thể bị vô hiệu hoá bởi những biện pháp khác có tác dụng tương tự. Chẳng hạn các suất thuế nội địa khi đánh vào hàng hóa nhập khẩu thì có tác dụng tương đương như thuế quan. Tương tự như vậy, các rào cản phi thuế đối với thương mại chỉ tác động đến hàng hóa nhập khẩu có thể loại trừ được việc nhũng hàng hoá này giống như hạn chế định lượng và do vậy được xử lý với cùng một phương thức như trên. Trong khi sự tồn tại của một mức thuế quan hay một quy định về hạn chế số lượng là một sự thật hiển nhiên thì các biện pháp có tác dụng tương đương thường được nguy trang bên trong những luật lệ có vẻ hợp pháp và rất khó phát hiện và theo kiện. Chính vì thế không phải ngẫu nhiên mà nguồn phong phú nhất về những trường hợp như vậy nằm tại Toà án Tư pháp nơi EU chuyên thụ lý các vụ vi phạm do Uỷ ban đưa đến.
Các hiệp định khác không có một hệ thống tương tự để theo dõi tính phù hợp của nó bởi một cơ quan có đủ năng lực như Uỷ ban Châu Âu chẳng hạn hoặc khi có tranh chấp không được xét xử bởi một Toà án độc lập thì thuật ngữ “các biện pháp có tác dụng tương đương” thường là vẫn chỉ một khái niệm trừu tượng và ít tác dụng.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)