1  Các qui tắc chung đối với tất cả các quyết định tập thể.

Khi một quyết định về các vấn đề vượt qúa quyền hạn của những người quản lý được qui định trong luật hoặc trong điều lệ, và nhất là khi sửa đổi điều lệ hoặc phê chuẩn quyết toán hàng năm, thì quyết định đó, về nguyên tắc phải được các thành viên nhất trí thông qua.
Tuy nhiên, điều lệ có thể qui định một số quyết định được thông qua với đa số được điều lệ ấn định.
Nguyên tắc nhất trí có nguy cơ cản trở hoạt động bình thưòng của công ty khi số lượng thành viên khá đông  song giữ nguyên tắc đó thì sẽ thận trọng hơn khi các thành viên không hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau.
Thề thức lấy ý kiến
Về nguyên tắc, các thành viên phải họp hội đồng.
Nhưng điều lệ có thể ấn định các quyết định sẽ được thông qua việc lấy ý kiến viết trừ phi một trong các thành viên đòi hỏi phải triệu tập họp hội đồng điều hạn chế này có tính chất vì trật tự công cộng và điều lệ không thể gạt bỏ.
Khi các thành viên ở những địa điểm khác nhau, hoặc vì một lý do nào đó mà không thể dễ dàng họp với nhau thì trong điều lệ nên qui định một cách thận trọng rằngnnhững người quản lý có trách nhiệm quyết định thể thức lấy ý kiến.
 

2 Các quỉ tắc đặc biệt đối với hội đồng hảng năm.

Những người quản lý phải làm một báo cáo về những công việc trong năm.
Bản báo cáo này cũng như bản kiểm kê tài sản các tài khoản hàng năm và bản tổng quyết toán phải được phê chuẩn của hội đồng các thành viên trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày kết thúc năm báo cáo. 
Bản dự thảo các quyết định , cũng như các tài liệu khác (trừ bản kiểm kê tài sản )được gửi cho mỗi thành viên ít nhất 15 ngày trước ngày họp hội đồng; trong cùng thời hạn 15 ngày  bản kiểm kê tài sản phải để ở trụ sở công ty để các thành viên có thể xem và sao chép.
Mọi nghị quyết vi phạm các qui tắc trên có thế bị hủy bỏ và mọi điều khoản trái ngược được coi là không có giá trị.
Việc Công bố các văn bản và nghị quyết. Các quyết định dẫn đến sửa đổi những điểm đã được công bố khi thành lập công ty (điều lệ, tên những người, quản lý,v.v...) phải được công bố bằng cách :
a. Đăng tin trên một tờ chuyên đăng các thông báo pháp định của tỉnh nơi công ty đặt trụ sở.
b. Nộp ở Phòng lục sự Tòa án thương mại:
- Văn bản sửa đổi kèm theo một biên bản chấp nhận mới về sự hợp lệ trong trường hợp sửa đổi điều lệ . Bản xác nhận này phải được tất cả các thành viên ký
- Hai bản điều lệ đã được sửa dổi 
Sau 3 năm, kể từ ngày trình nộp, quyền xin hợp thức hóa không còn nữa, do hết thời hiệu
Ngoài việc được thông báo về các tài liệu kế toán trước ngày họp hội đồng hàng năm, các thành viên không phải là người quản lý có quyền 2 lần trong năm được thông báo về các sổ sách và tài liệu của công ty và chất vấn bằng văn bản về công việc quản lý công ty. Việc chất vấn này cũng phải được trả lời bằng văn bản .Quyền được xem các tài liệu bao gồm quyền sao chép tài liệu.

3 Quyền nhượng các phần vốn góp của công ty 

3.1 Chuyển nhượng giữa những người còn sống.

Các phần góp vốn của công ty chỉ có thể được chuyển nhượng với sự thỏa thuận của tất cả các thành viên 
Mọi điều khoản của điều lệ trái với qui định trên được coi là không có giá trị.
Hình thức chuyển nhượng.
Việc chuyển nhượng các phần vốn góp của công ty phải được xác nhận bằng văn bản.
Nó có hiệu lực ràng buộc công ty trong các hình thức quy định ở điều 1690 Bộ luật dân sự.
Nó chỉ có hiệu lực đối với người thứ ba sau khi các thủ tục này được thưc hiện và sau khi hai bản chính văn bản chuyển nhượng (hoặc hai bản sao nếu lầ công chứng thư) đã được nộp như tài liệu phụ lục ở sổ đăng ký thương mại.

3.2 Trường hợp một thành viên qua đời.

Về nguyên tắc công ty bị giải thể trong trường hợp một thành viên qua đời.
Nhưng điều lệ có thể quyết định một thành viên qua đời không dẫn đến việc giải thể công ty
Căn cứ vào điều 21 luật ngày 24-7-1966 được sửa đổi bởi sắc lệnh số 78-704 ngày 3-7-1978 thì:
- Nếu có quy định trong trường hợp một thành viên qua đời công ty tiếp tục hoạt động với người thừa kế của người đó, hoặc chỉ với những thành viên còn sống, thì quy định này sẽ được tuân theo, trừ phi có dự kiến muốn trở thành thành viên, người thừa kế phải được công ty chấp nhận.
Cũng sẽ như thế nếu có quy định công ty tiếp tục hoạt động  với người vợ hay chồng còn sống hoặc với một hay nhiều người thừa kế, hoặc Với bất cứ người nào khác được chỉ định trong điều lệ hoặc nếu điều lệ cho phép với người được chỉ định trong di chúc..
- Nếu công ty tiếp tục với các thành viên còn sống thì người thừa kế chỉ là chủ nợ của công ty và chỉ được hưởng giá trị các quyền lợi trong công ty của người đã chết.
Người thừa kế cũng được hưởng các quyền lợi như trên nếu có quy định trở thành thành viên thì người thừa kế phải được sự chấp thuận của công ty. 
-Nếu công ty tiếp tục với  người thừa kế với người vợ hay chồng còn sống, hoặc với người nhận vật di tặng, thì những người được hưởng qui định này phải gánh chịu phần nợ của di sản thừa kế tối ngang giá trị các quyền lợi trong công ty mà họ được hưởng.
Trong tất cả các trường hợp nêu trên, giá trị các quyền lợi trong công ty được xác định vào thời điểm người thành viên qua đời. Trong trường hợp có tranh chấp về cách tính giá trị thì cần có một giám định viên do các bên chỉ định, nếu không có sự nhất trí giữa các bên, việc chỉ định sẽ do lệnh của Chánh án Tòa án thương mại.
Các thừa kế vị thành niên chưa đủ năng lực.
Trong trường hợp công ty tiếp tục hoạt động, và nếu một hay nhiều người thừa kế là người vị thành niên chưa đủ năng lực, thì họ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi di sản thừa kế.
Ngoài ra, trong thời hạn một năm, kể từ ngày người thành viên qua đời công ty liên danh phải chuyển thành công ty hợp vốn đơn giản mà người vị thành niên là thành viên góp vốn.
Nếu không chuyển thành hình thức công ty hợp vốn, công ty hợp danh, thì sẽ bị giải thể
 

4 Quản trị và vận hành công ty hợp danh

Các thành viên công ty hợp danh là những người hoàn toàn bình đẳng và quan hệ với nhau theo kiểu mỗi trong số họ đều là chủ ủy và thụ ủy của nhau. Đây được xem là nêh móng của chế định công ty hợp danh 

Về nguyên tắc họ hoàn toàn phải quyết định vấn đề theo nguyên tắc nhất trí. Mỗi người trong số họ đều có quyền phủ quyết. Tuy nhiên họ có thể thống nhất lựa chọn ra người quản lý công ty mà người này có thể là một người không phải là thành viên của công ty hoặc là một thành viên công ty. Lưu ý rằng khi một người không phải là thành viên công ty được chọn làm người quản lý công ty hợp danh thì người này có quyền đại diện cho công ty hợp danh nhưng không có tư cách thương nhân.
Công ty hợp danh mang bản chất hợp đổng sâu sắc. Do đó nếu  hợp đồng thiết lập công ty hợp danh không qui định ai là người quản lý công ty thì mỗi thành viên công ty đều là người quản lý công ty. Và họ phải quyết định theo nguyên tắc nhất trí. Tuy nhiên hiện nay nguyên tắc này bị điều giảm. Trường hợp người quản lý công ty bị chết mà các thành viên không nhất trí được việc chỉ định một người quản lý mới thì họ cũng phải hành xử với nguyên tắc này.
Nếu hợp đồng thành lập công ty hợp danh đã ấn định sẵn một thành viên công ty làm quản lý công ty thì các thành viên công ty không thể quyết định chấm dứt được chức vụ quản lý này bởi nó là một điểu kiện của hợp đồng thành lập công ty mà người quản lý công ty đã tham gia giao kết nó. Việc hủy bỏ điều kiện đó của hợp đồng phải có lý do chính đáng và phải được tòa án ra phán quyết.Tuy nhiên các qui tắc này không áp dụng cho người quản lý công ty mà không phải là thành viên công ty mặc dù chức vụ của người này đã được ấn định trong hợp đồng thành lập công ty bởi bản thân người này không tham gia giao kết hợp đổng thành lập công ty đó và điều khoản thiết lập chức vụ của người này không phải là điều kiện hợp thành hợp đồng thành lập công ty mà chỉ là điều khoản ủy quyền gắn vào hợp đồng thành lập công ty. Người quản lý mà là thành viên công ty không thể đơn phương chấm dứt chức vụ của mình. Nhưng người quản lý mà không phải là thành viên công ty có thể đơn phương châm dứt chức vụ của mình.
Các qui tắc cơ bản về quản trị công ty hợp danh cho thấy  cơ cấu quản trị có hai định chế quan trọng đó là hội đồng thành viên và người quản lý công ty. Ngày nay người ta thường duy trì một qui chế tương đối mềm mỏng đối với quản trị công ty hợp danh để bảo đảm cho nó hoạt động một cách linh động và có hiệu quả. Luật Doanh nghiệp 2020 củng đi theo khuynh hướng đó, tuy nhiên không thể coi đó là hoàn thiện.
Việc hoạt động của hội đổng này hoàn toàn lệ thuộc vào hợp đồng thành lập công ty hay điều lệ công ty. Luật Doanh nghiệp 2020 đã can thiệp khá sâu vào vẩn đề quản trị công ty hợp danh bằng cách qui định dứt khoát về việc hội đồng thành viên phải bầu ra một thành viên làm chủ tịch hội đổng thành viên giống với mô hình quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn mà đạo luật này tạo dựng nên, và vị chủ tịch này kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty hợp danh nếu Điều lệ công ty không qui định khác. Đạo luật này cũng xông thẳng vào các vấn đề vận hành cụ thể của công ty hợp danh bằng cách nếu điều lệ công ty không qui định khác, tuyên bố một tỷ lệ 3/4 tổng số thành viên tán thành để giải quyết các vấn đề lớn của công ty như: Phương hướng phát triển công ty; sửa đổi, bổ sung điểu lệ công ty; kết nạp thành viên mới; cho thành viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc khai trừ thành viên; quyết định các dự án đầu tư; quyết định vay, huy động vốn; cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty; quyết định thông qua báo cáo tài chính hàng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên; giải thế công ty... (Điều 135, khoản 3). Việc định ra một tỷ lệ phần trăm phiếu bầu cho việc ra các quyết định của công ty hợp danh không phải là xa lạ. Song việc qui định quá cụ thể về các vấn đề lớn mà có thể được quyết định với tỷ lệ đó là hiếm thấy 
Người quản lý công ty hợp danh có thể là một pháp nhân bởi pháp nhân có thể là thành viên công ty hợp danh. Thế nhưng Luật Doanh nghiệp 2020 không để cập tới việc thành viên công ty hợp danh là pháp nhân. Nhìn chung pháp luật của các nước đều qui định người quản lý công ty có nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành và hành động vì lợi ích cao nhất của công ty. Việc quản lý công ty hợp danh có thể được giao cho nhiều người. Nêù không có sự phân công công việc rành mạch bởi điều lệ hay hợp đồng thành lập công ty cho mỗi người quản lý, thì họ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc gây thiệt hại cho công ty.
Luật Doanh nghiệp 2020 qui định mỗi thành viên của công ty hợp danh đều có quyền đại diện theo pháp luật của công ty và điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Các thành viên phân công nhau đảm nhận chức danh quản lý và kiểm soát. Các hạn chế đối với thành viên công ty hợp danh trong việc thực hiện công việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với người thứ ba khi người đó biết được hạn chế đó. Với các qui định như trên, Luật Doanh nghiệp 2020 ấn định Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty hợp danh chỉ có vai trò là người điều phối các hoạt động kinh doanh của các thành viên công ty, và đại diện cho công ty trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước và trong các vụ kiện, ngoài ra có vai trò trong việc triệu tập họp hội đồng thành viên, ký quyết định về qui chế, lưu giữ sổ sách kế toán, chứng từ.
Mỗi thành viên công ty hợp danh theo nguyên lý đều có quyền góp ý và kiểm soát việc quản lý công ty. Người quản lý công ty được hưởng thù lao từ việc thực hiện chức năng của người quản lý. Thông thường khoản thù lao này được ân định rõ trong điều lệ công ty hay trong một nghị quyết được thông qua bởi các thành viên công ty.
Việc chia lãi cho các thành viên công ty được qui định trong điều lệ công ty. Nếu không có qui định như vậy, thì chia lãi theo qui định của pháp luật theo nguyên tắc khoản lãi được chia tương ứng vói tỷ lệ phần lợi của mỗi thành viên trong công ty.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!