1. Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

APEC được thành lập theo sáng kiến của Australia tại Hội nghị bộ trưởng kinh tế thương mại và ngoại giao 12 nước khu vực châu Á và Thái Bình Dương được tổ chức tại Canbera (Australia) tháng 11/1989 bao gồm: Australia, Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada và Hoa Kỳ. Hiện nay, APEC gồm 21 thành viên, ngoài 12 thành viên sáng lập, các thành viên khác bao gồm: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Hồng Kông, Đài Loan, Mexico, Papua New Guinea, Chile, Peru, Nga và Việt Nam.

Với diện tích khoảng hơn 50 triệu km vuông, dân số khoảng 2,3 tỉ người, APEC sẽ là thị trường tiêu thụ rất rộng lớn, một trung tâm công nghiệp hàng đầu của thế giới với nhiều thị trường mới được khai thác bước đầu. APEC không phải là khu vực thương mai tự do hay liên minh thuế quan mà theo cơ chế " khu vực mở", ở đó việc tự do hoá thương mại diễn ra thông qua những nỗ lực đơn phương của các nền kinh tế thành viên (chủ nghĩa đơn phương có phối hợp) và tiến tới mục tiêu tổng thể rộng lớn không còn thuế quan và thế chế thương mại đầu tư mở cửa trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Sự ra đời của APEC là kết quả của sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển nhanh của nền kinh tế nhiều nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nên kinh tế. Những nguyên nhân này đặt ra yêu cầu phải có một diễn đàn trong khu vực nhằm phối hợp các chính sách về kinh tế, thúc đẩy tự do hoá giữa các nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.

Mặc dù APEC cũng có một bộ máy để thực hiện cơ chế phối hợp hoạt động giữa các nước thành viên. Tuy nhiên, cho đến nay APEC cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ là một diễn đàn đối thoại, trao đổi có tính chất liên khu vực chứ chưa phải là tổ chức quốc tế liên chính phủ với những cam kết ràng buộc. Các phiên tham vấn (tương tự như các phiên đàm phán minh bạch hoá chính sách tại WTO) được tổ chức hàng năm, luân phiên giữa các nước thành viên bên lễ của Hội nghị APEC nhằm tiến hành rà soát tiến độ thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia (IAP) - Kế hoạch này do các nước thành viên APEC xây dựng và cập nhật hàng năm, thể hiện cam kết của các thành viên trong các lĩnh vực: Thuế, phi thuế, dịch vụ, đầu tư, thủ tục hải quan, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, mua sắm chính phủ...

Thực tế quá trình tồn tại của APEC cho thấy diễn đàn này ngày càng được hoàn thiện nâng cao theo hướng một tổ chức kinh tế khu vực. Thành viên của APEC bao gồm không chỉ những quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản... mà còn có cả những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, Indonesia... Một điểm đặc biệt khác là trong cơ cấu thành viên của APEC, ngoài các quốc gia còn có một số vùng lãnh thổ (thực thể phi quốc gia) cũng tham gia như Hồng Kông, Đài Loan. Mỗi nước thành viên tùy vào điều kiện kinh tế cụ thể mà tự đề ra chương trình hành động quốc gia (IAP) riêng cho từng giai đoạn nhất định để thực hiện những mục tiêu mà APEC đã đề ra.

APEC và cơ hội cho thương mại khu vực châu Á - Thái Bình Dương

1.1. Mục tiêu hoạt động của APEC

Sự ra đời của APEC nhằm đạt các mục tiêu chính sau đây: Thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư hoàn toàn đối với các nước công nghiệp phát triển vào năm 2010 và đối với các nước đang phát triển vào năm 2020; tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư trong khu vực phát triển; hợp tác trong lĩnh vực kinh tế và kĩ thuật nhằm hỗ trợ lẫn nhau phát triển ổn định và bền vững, phát huy những thành tựu tích cực nền kinh tế của các nước trong khu vực và toàn thế giới.

1.2. Cơ cấu tổ chức của APEC

+ Hội nghị thượng đỉnh.

+ Hội nghị bộ trưởng.

+ Hội nghị các quan chức cao cấp.

+ Ban thư kí.

+ Các ủy ban chuyên môn.

Việt Nam đã trở thành thành viên của APEC vào năm 1998. Để tham gia một cách hiệu quả với tư cách là thành viên của APEC, Việt Nam cần xây dựng các phương án, kế hoạch cụ thế, nghiên cứu các lĩnh vực như đầu tư, dịch vụ... đưa ra các cam kết mở cửa thị trường, tham gia một số nhóm công tác của APEC về xúc tiến thương mại, khoa học công hể trong công nghiệp... Thông qua kế hoạch hành động quốc gia (IAP) - một lộ trình để các nền kinh tế APEC thực hiện các mục tiêu về tự do hoá thương mại và đầu tư trong khu vực APEC.

2. Liên minh Châu Âu

Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (tiếng Anh: European Union; còn được gọi là Khối Liên Âu, viết tắt là EU), là một liên minh chính trị và kinh tế bao gồm 27 quốc gia thành viên tại châu Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC). Liên minh châu Âu có nguồn gốc từ Cộng đồng Than Thép châu Âu từ 6 quốc gia thành viên ban đầu vào năm 1951. Từ đó cho đến nay, Liên minh châu Âu đã lớn mạnh hơn về số lượng cũng như chất lượng thông qua việc tăng cường thẩm quyền của Liên minh châu Âu.

Liên minh châu Âu dựa trên 3 trụ cột: Trụ cột cộng đồng gồm Cộng đồng than, thép châu Âu (đã chấm dứt sự tồn tại vào năm 2001 sau 50 năm hoạt động), Cộng đồng kinh tế chau Âu, Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu và hai trụ côt liên chính phủ gồm Chính sách đối ngoại và an ninh chung Hợp tác trong lĩnh vực nội vụ và tư pháp.

So sánh với nhiều thiết chế kinh tế quốc tế toàn cầu cũng như khu vực, có thể nói Liên minh châu Âu hiện là tổ chức quốc tế có hoạt động hợp tác kinh tế toàn diện và hiệu quả nhất. Nếu như cấp độ hợp tác kinh tế quốc tế của ASEAN mới đang ở mức khu vực mậu dịch tự do thì Liên minh châu Âu đã đạt tới mức độ cao nhất, đó là liên minh kinh tế - tiền tệ. Về thương mại, EU hướng tới việc xoá bỏ các hạn chế trong thương mại, hạ thấp rào cản thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế. Đối với thị trường nội địa, EU thực hiện việc tự do lưu thông lao động, vốn, hàng hoa và dịch vụ, tạo lập thị trường chứng khoán và thị trường tài chính được hội nhập hoàn toàn.

Quan hệ ngoại giao giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam chính thức được xác lập từ năm 1990. Sự ra đời của Hiệp định khung về hợp tác vào ngày 17/7/1995 đánh dấu bước hợp tác giữa 2 bên. Tháng 1/1996, Văn phòng thường trực của Ủy ban châu Âu tại Việt Nam đã đi vào hoạt động. Quan hệ buôn bán 2 chiều tăng mạnh qua các năm. Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và EU tăng nhanh, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang EU gia tăng tương đổi ổn định do Việt Nam được hưởng chế độ GSP (chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập) và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá Việt Nam ngày càng tăng. Việc EU mở rộng cũng có một số tác động tích cực tới Việt Nam do một bộ phận các thành viên mới của EU đã từng hợp tác, giúp đỡ Việt Nam trên cơ sở của mối quan hệ giữa các nước XHCN cũ có từ nhiều thập kỉ trước

Điều kiện nhập khẩu hàng hóa của EU - TraceVerified

3. Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)

ASEAN là tổ chức quốc tế liên chính phủ có tính chất khu vực được thành lập ngày 8/8/1967 trên cơ sở của bảnTuyên bố ASEAN (còn được gọi là tuyên bố Băng cốc) được bộ trưởng ngoại giao 5 nước là Indonesia, Malaysia Philippine, Singapore và Thái Lan thông qua tại Thái Lan.

Mục đích của ASEAN là "Thúc đấy sự tăng trưởng kinh tế tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á hoà bình và thịnh vượng".

Khác với Liên minh châu Âu, các nước thành viên ASEAN không có sự đồng nhất về thế chế chính trị và trình độ phát triển kinh tế. Nếu như Singapore, Thái Lan... đã trở thành những nước công nghiệp mới thì Việt Nam, Lào... trình độ phát triển công nghiệp vẫn còn thấp. Tổng thu nhập quốc dân tính trên đầu người năm 2000 của Singapore xếp thứ 19 trên thế giới trong khi Việt Nam đứng ở vị trí 164, Lào là 178... Tuy nhiên, ASEAN ngày càng chứng tỏ uy tín, ảnh hưởng của mình đối với các thành viên cũng như đối với các quốc gia ngoài ASEAN. Hiện nay, với 10 thành viên, ASEAN đã trở thành thị trường khu vực rộng lớn với diện tích đất 4,46 triệu km², và có dân số khoảng 600 triệu người, chiếm 8,8% dân số thế giới.Năm 2018, tổng GDP ước tính của tất cả các quốc gia ASEAN lên tới xấp xỉ 2,92 nghìn tỷ USD. Nếu coi ASEAN là một thực thể duy nhất thì thực thể này sẽ xếp hạng 5 trong số các nền kinh tế lớn nhất trên thế giới theo Gdp thực, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức. Dự kiến đến năm 2030, thực thể này có thể vươn lên thứ 4 thế giới.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục và tương đối ốn định của các nước thành viên ASEAN trong nhiều năm qua là kết quả của việc triển khai thực hiện đường lối phát triển kinh tế năng động và phù hợp, đó là sự chuyển hướng từ công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu.

Mặc dù hợp tác kinh tế chính là mục tiêu quan trọng trong ASEAN nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong thập niên đầu tiên khi ASEAN mới ra đời, hợp tác về kinh tế thương mại hầu như chưa được chú trọng. Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất tổ chức ở Ba li, những người đứng đầu các quốc gia ASEAN khi đó đã chỉ rõ rằng hợp tác kinh tế thương mại là lĩnh vực hợp tác quan trọng giữa các nước thành viên. Hiệp định về ưu đãi thương mại (PTA) ra đời vào năm 1977 tại Manila nhằm tự do hoá thương mại và đẩy nhanh hoạt động thương mại trong nội bộ khu vực. Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 4 được tiến hành ở Singapore đã đánh dấu một bước phát triển mới trong hợp tác kinh tế thương mại của Tổ chức này. Theo Tuyên bố Singapore, mậu dịch tự do trong nội bộ khu vực sẽ được thực hiện vào năm 2008 (sau đó đã được rút ngắn vào năm 2003) với mục tiêu cụ thể là: Tăng cường tự do hoá thương mại nội bộ khu vực bằng cách loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc tạo dựng một khu vực đầu tư tự do và sẽ làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế luôn thay đổi, đặc biệt là trong xu thế tự do hoá thương mại thế giới. Hội nghị này đã có một số quyết định quan trọng liên quan đến cơ cấu tổ chức của ASEAN và đặc biệt là quyết định thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) - Bước ngoạt trong sự phát triển hợp tác kinh tế của Tổ chức. Mục tiêu thực sự của ASEAN trong việc thành lập AFTA không chi là thúc đẩy các luồng thương mại giữa các nước Cộng đồng và bằng cách đó tăng sức hấp dẫn của khu vực như một diểm đến đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài ASEAN.

BÁO SÀI GÒN GIẢI PHÓNG

Các hoạt động hợp tác kinh tế thương mại của ASEAN còn được thực hiện thông qua một số chương trình như: Chương trình hợp tác về hàng hoá; chương trình hợp tác trong lĩnh vực hải quan; chương trình hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp; chương trình hợp tác trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và lương thực; chương trình hợp tác về đầu tư, chương trình hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ; chương trình hợp tác trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Hiện nay, thương mại nội khối ASEAN cũng đã có sự tăng lên đáng kể, song tỉ trọng chung của thương mại nội khối ASEAN vẫn còn tương đối thấp và chỉ chiếm gần 1/5 tổng thương mại ASEAN.

Mặc dù cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á và có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, về văn hoá, về phong tục tập quán nhưng quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN từ năm 1979 trở về trước đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Quan hệ giữa hai bên thực sự bước sang trang mới kể từ năm 1992, khi Việt Nam gia nhập Hiệp ước Ba li năm 1976. Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN vào tháng 7/1995 và đã tham gia vào hầu hết các lĩnh vực hợp tác kinh tế thương mại trong ASEAN. Việt Nam hội nhập ASEAN nói chung và hội nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN nói riêng trong bối cảnh khá thuận lợi. Bên cạnh đó, những khó khăn, thách thức mà chúng ta phải đương đầu không phải là ít như trình độ công nghệ yếu kém, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, nhân lực dồi dào về số lượng nhưng lại kém về chất lượng, khả năng cạnh tranh của hàng hóa chưa cao,...Tuy nhiên, với những nỗ lực của mình, Việt Nam dần khẳng định vị trí của mình trong khu vực cũng như trên thế giới.

4. Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)

NAFTA ra đời trên cơ sở của Hiệp định về khu vực mậu dịch tự do được ký kết vào năm 1992 giữa ba quốc gia Hoa Kỳ Canada và Mehico. Hiệp định chính thức có hiệu lực kể từ tháng 01/1994. Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ có nguồn gốc từ Hiệp định Thương mại tự do giữa Hoa Kỳ và Canada, đây là hiệp định tổng thể toàn diện điều chỉnh thương mại hàng hóa dịch vụ cũng như đầu tư và sở hữu trí tuệ. Không chỉ quy định việc loại bỏ tất cả thuế quan trong nội bộ khu vực không chậm hơn 15 năm và loại bỏ cơ bản phần lớn tất cả các hàng rào phi thuế quan và hiệp định này còn bao gồm các quy định tổng thể về cả được đối xử với đầu tư nước ngoài, mua sắm chính phủ, thương mại dịch vụ, thủ tục hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, thương mại hàng nông sản, năng lượng hóa chất cơ bản, xuất nhập cảnh tạm thời vì mục đích kinh doanh, khiếu nại kháng cáo trong các vụ việc về bán phá giá và thuế đối kháng, cơ chế giải quyết tranh chấp giản dị liên quan đến các bất đồng giữa các chính phủ,...

Được thiết kế để phù hợp với GATT 1994 và các quy định khác của WTO, theo Điều 103 của hiệp định NAFTA, nếu không có sự nhất quán giữa NAFTA, GATT với nước và các hiệp định khác thì nói chung các bên sẽ áp dụng các quy định của NAFTA, hay nói cách khác NAFTA sẽ được ưu tiên thi hành khi có xung đột giữa các quy định của NAFTA và các quy định tương ứng trong một trong các hiệp định khác của WTO. Là hiệp định toàn diện tổng thể nhưng NAFTA cũng còn có một số hạn chế như không quy định về việc dịch chuyển lao động không xử lý vấn đề nhập cư bất hợp pháp, tỉ giá hối đoái,..

Một điều rõ ràng là khi NAFTA được nhìn nhận như chất xúc tác cho việc mở rộng thương mại tự do cho các nền kinh tế trên toàn bán cầu Tây thì lợi ích của sự tự do thương mại không chỉ thuần túy thuộc về bán cầu Tây mà một số quốc gia khác cũng có những cơ hội nhất định trong thương mại ở khu vực này . Đối với Việt Nam , Bắc Mỹ , đặc biệt là Hoa Kỳ - một trong các thành viên của NAFTA đã kí hiệp định thương mại với Việt Nam , là một thị trường rất tiềm năng . Nghiên cứu , tìm hiểu và nắm vững hệ thống pháp luật của mỗi nước thành viên và Hiệp định NAFTA là điều cần thiết khi chúng ta đang thực hiện chiến lược sản xuất hướng vào xuất khẩu và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu của Việt Nam .

Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ – Wikipedia tiếng Việt

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)