Đây là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Khả năng của các cá nhân hay tổ chức do pháp luật quy định, bằng các hành vi của chính mình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý và tự chịu trách nhiệm về những hành vi ấy.
“Năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” – Điều 19 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS)
Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn thiện, độc lập khi họ có đầy đủ NLHVDS, ngoài năng lực pháp luật dân sự vốn là thuộc tính được pháp luật ghi nhận cho mọi cá nhân.
Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Ngoài ra, NLHVDS còn bao hàm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự.
Cùng với năng lực pháp luật, NLHVDS là thuộc tính của cá nhân, tạo thành tư cách chủ thể độc lập của cá nhân trong các quan hệ dân sự.
1. Hạn chế năng lực hành vi dân sự
Năng lực hành vi của người đã thành niên có thể bị hạn chế trên cơ sở những điều kiện và thủ tục được quy định tại Điều 24 BLDS. Năng lực hành vi của người thành niên bị hạn chế khác với năng lực hành vi một phần của người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc dù về hình thức có vẻ giống nhau. Năng lực hành vi của người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc nhiên được công nhận là năng lực hành vi đầy đủ khi đạt độ tuổi nhất định còn việc hạn chế năng lực hành vi phải thông qua toà án theo trình tự tố tụng dân sự và được áp dụng với những người nghiện ma túy và các chất kích thích dẫn đến hậu quả phá tán tài sản của gia đình.
Nghiện ma túy và các chất kích thích khác phải là nguyên nhân dẫn đến phá tán tài sản của gia đình và việc yêu cầu toà án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi không chỉ thuộc những người có quyền, lợi ích liên quan mà quan trọng hơn là các cơ quan hoặc tổ chức hữu quan cũng có quyền yêu cầu toà án, điều này tạo điều kiện tốt hơn để quy định này được thực thi về mặt thực tế mà không chỉ về pháp lí.
Căn cứ vào tình trạng thực tế và theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan, tổ chức hữu quan, toà án có thể ra quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế NLHVDS và phạm vi đại diện do toà án quyết định. Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế NLHVDS phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế NLHVDS thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế NLHVDS.
Việc tuyên bố một người mất NLHVDS, hạn chế năng lực hành vi dân sự dẫn đến những hậu quả pháp lí nhất định, tư cách chủ thể của những người này như những người có năng lực hành vi dân sự một phần.
2. Yếu tố hạn chế năng lực hành vi về độ tuổi
- Trẻ em dưới 7 tuổi ( infantes) : hoàn toàn không có năng lực hành vi dân sự, không được tham gia vào các giao dịch dân sự, trừ một số hoạt động phục vụ nhu cầu cần thiết phù hợp lứa tuổi và đặt dưới sự giám hộ.
- Trẻ em nam từ 7 – 14 tuổi, nữ từ 7 – 12 tuổi (impuberes) được pháp luật công nhận có khả năng thực hiện các giao dịch dân sự với điều kiện chỉ thu lợi cho cá nhân, tức là không bị truy cứu bất cứ trách nhiệm nào hay không phải nhận bất cứ trách nhiệm nào từ việc giao dịch đó. Khi giao dịch phát sinh một quyền, nghĩa vụ hay chấm dứt quyền nghĩa vụ đó thì giao dịch phải được sự đồng ý của gia chủ hay người giám hộ ( auctoristas tutoris).
- Nam > 14 tuổi, nữ > 12 tuổi được coi là có năng lực hành vi toàn phần nếu không có dấu hiệu của bệnh tâm thần.
- Nam từ đủ 14 tuổi, nữ đủ 12 tuổi đến 25 tuổi là người có đầy đủ năng lực hành vi, họ có quyền bảo hộ, kết hôn và lập di chúc. Tuy nhiên phụ nữ có hạn chế ở chỗ: khi thực hiện những giao dịch lớn về tài sản phải được sự đồng ý của người giám hộ hợp pháp, khi kết hôn phải có sự đồng ý của gia chủ ( phụ nữ < 25 tuổi ) nếu không sẽ mất quyền thừa kế.
3. Vấn đề giới tính thể hiện rõ nét nhất trong lĩnh vực hôn nhân gia đình.
Hôn nhân gia đình: trong quan hệ gia đình quyền lực người đàn ông rất lớn
- Người phụ nữ có địa vị rất thấp trong xã hội, không có tự do. Phải sống phụ thuộc vào người khác: Khi ở nhà thì dưới quyền cha; khi lấy chồng thì dưới quyền chồng; khi chồng chết thì chịu sự cai quản của họ hàng nhà chồng
- Người đàn ông lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ trở thành người gia trưởng và chỉ có người đàn ông mới có thể trở thành người gia trưởng.
+ Tài sản gia đình do người chồng quản lý, con gái lấy chồng phải phụ thuộc vào chồng
+ Người cha có quyền bán con làm nô lệ. Người con chỉ có thể tự do trong điều kiện nhất định “Nếu người cha bán con 3 lần thì người con mới thoát khỏi sự cai quản của người cha”
- Cũng đã có sự coi trọng phũ nữ khi hôn nhân là 1 vợ -1 chồng và xuất phát từ sự tự nguyện của 2 bên
- Vấn đề nuôi sống gia đình đặt nặng lên vai người chồng: “Mọi chi phí trong thời gian sống chung của 2 vợ chồng là do người chồng gánh vác”. Nhưng người chồng có quyền định đoạt hoa lợi do của hồi môn của vợ mang lại. Dù vậy sau khi ly hôn người vợ lại có quyền nhận lại của hồi môn của mình.
Trong nhiều thế kỉ, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của người phụ nữ bị hạn chế hơn so với đàn ông. Đặc biệt vào thời kì cộng hòa, Pháp luật quy định phụ nữ không có quyền bỏ phiếu hay nắm giữ chức vụ chính trị cũng như việc tham gia vào quân đội… pháp luật còn buộc người phụ nữ phải phụ thuộc hoàn toàn vào gia chủ, vào người chồng và họ hàng thân thuộc. (một người phụ nữ La mã phải giữ tên họ của gia đình mình trong suốt cuộc đời, con cái thì lấy theo tên của người cha). Theo đó, người phụ nữ phụ thuộc hoàn toàn vào chồng, chịu mọi sự phân xử, quyết định của người chồng một cách tuyệt đối và không được phép có tài sản riêng. Nếu người chồng qua đời mà người vợ đã tự ý đi lấy chồng khác khi chưa đoạn tang chồng cũ hoặc chỉ vì một nghề phi đạo đức thì không được pháp luật cho phép giới thiệu người khác tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện thay cho bản thân trong tố tụng. Họ còn bị hạn chế về quyền thừa kế và quyền kết hôn với những người tự do khác.
Như vậy về căn bản phụ nữ đã được coi là công dân nhưng lại bị hạn chế trong một số lĩnh vực mà pháp luật đã quy định và không có được sự bình đẳng …
4. Yếu tố tình trạng sức khỏe làm hạn chế năng lực hành vi
Người mắc bệnh tâm thần, người mất năng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi, người bị hạn chế về thể chất, người không có ý thức về tài sản đã có hành vi phá tán tài sản của gia đình đều phải đặt dưới sự giám hộ.
Người giám hộ là những người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực hành vi, có quốc tịch La Mã. Giám hộ đối với tài sản của người mức bệnh tâm thần thì người giám hộ phải được pháp luật qui định. Theo điểm 7a bảng V (luật XII bảng) thì: "Nếu một người mất trí (tâm thần) thì quyền đối với tài sản và chính người này sẽ thuộc về agnat (người bảo trợ hay họ hàng của người này)". Và cũng theo Luật XII bảng thì người chi tiêu hoang tàn không được quản lí tài sản thuộc về mình. Trong một gia đình có người mắc bệnh tâm thần thì những người thân thuộc (agnat) của người đó chỉ định người giám hộ. Những người thân thuộc trong quan hệ gia đình của người La Mã bao gồm vợ, anh em và người bố là chủ gia đình. Người giám hộ của người mắc bệnh tâm thần không được biển thủ tài sản của người dưới quyền và nếu làm hại đến người phụ thuộc vào mình thì đáng bị nguyển rủa.
Pháp luật La Mã qui định những người phải đặt dưới sự giám hộ của người khác thì năng lực chủ thể của người được giám hộ bị hạn chế, không được toàn quyền tham gia các giao dịch theo ý chí của mình mà bị ràng buộc ý chí với người giám hộ.
*Yếu tố tình trạng phá tán tài sản:
Tình trạng phá tán tài sản hiểu theo pháp luật La Mã là tình trạng sinh hoạt và chi tiêu bừa bãi, hoang tàng. Theo Luật XII bảng, người hoang tàng không được quản lí tài sản thuộc về mình. Tài sản của những người này thuộc quyền quản lí của người giám hộ. Người giám hộ không được biển thủ tài sản của người được giám hộ và nếu làm hại đến người phụ thuộc vào mình thì sẽ bị nguyền rủa (giao cho Diêm vương).
5. Yếu tố tình trạng suy giảm danh dự công dân La Mã:
Đối tượng suy giảm danh dự công dân La Mã:
- Đối với những người phụ nữ đã trưởng thành nhưng nhẹ dạ cả tin: pháp luật La Mã qui định họ cần phải được bảo trợ, chỉ trừ những nữ đồng trinh là những người được pháp luật La Mã tôn trọng địa vị của họ. Tuy nhiên, những tài sản (Res mancipi) thuộc về người đàn bà mà chịu sự bảo trợ của những người thân thiết vẫn thuộc quyền quản lí của người đàn bà ấy. Nhưng nếu người đàn bà đó tự mình chuyển những đồ vật thuộc quyền quản lí của mình đặt dưới sự bảo trợ thì khi định đoạt những tài sản đó phải được sự đồng ý của người bảo trợ.
Về cơ bản, người phụ nữ trưởng thành dưới chế độ La Mã có quyền định đoạt tài sản của mình, chỉ trừ những giao dịch quan trọng như trả tự do cho nô lệ hoặc thực hiện nghĩa vụ theo giao dịch có giá trị lớn về tài sản mới cần sự đồng ý của người giám hộ hợp pháp.
- Đối với người đã bị tước danh dự công dân La Mã do phạm tội và đã bị kết án: Người đã bị kết án về một hành vi phạm tội không được tham gia các giao dịch mà sự thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch cần thiết phải có sự trung thực như hợp đồng gửi giữ, hợp đồng ủy thác tài sản.
Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.
Trân trọng./
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê