1. Lực lượng sản xuất hiện đại là gì?

Có thể hiểu lực lượng sản xuất hiện đại là khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa người lao động ở trình độ cao với tư liệu sản xuất tiên tiến, dựa trên hệ thống công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, có tính bền vững và thân thiện với môi trường sinh thái.

Có rất nhiều yếu tố tác động đến người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại như: điều kiện địa lý tự nhiên, truyền thống văn hóa lịch sử, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội nhưng trong giới hạn phạm vi của luận án, tác giả chỉ tập trung phân tích những yếu tố cơ bản tác động đến sự phát triển của người lao động quá trình xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay, hay nói cách khác là những yếu tố cơ bản tác động đến sự phát triển của người lao động hiện đại ở Việt Nam.

2. Tác động của giáo dục – đào tạo

Tác động của giáo dục – đào tạo đến người lao động trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam

Một trong những đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất hiện đại là yếu tố tri thức, trí tuệ của người lao động được kết tinh ngày càng nhiều trong mỗi sản phẩm, tạo ra giá trị gia tăng lớn và làm nên tính cạnh tranh của sản xuất vật chất. Do đó, giáo dục – đào tạo trở thành một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển của người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại.

Giáo dục – đào tạo có tác động trực tiếp đến việc nâng cao dân trí, trình độ, tay nghề, kỹ năng cho người lao động. Để trở thành người lao động hiện đại thì không thể không trải qua quá trình đào tạo. Giáo dục – đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng góp phần quan trọng trong việc trang bị cho người lao động những tri thức về nghề nghiệp, kỹ năng trong lao động sản xuất, kỹ năng về khoa học – công nghệ để họ có thể vận hành được những máy móc hiện đại. Ngoài những tri thức truyền thống đó, giáo dục – đào tạo hiện nay còn trang bị cho người lao động những tri thức về thị trường, hội nhập, về khả năng nắm bắt và xử lý thông tin, những tri thức về bản quyền và sở hữu trí tuệ; về an toàn lao động, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái để tạo nên những phẩm chất hiện đại của người lao động trong lực lượng sản xuất thời đại ngày nay. Có thể nói, giáo dục – đào tạo hiện nay góp phần tái sản xuất ra năng lực hoạt động thực tiễn cho người lao động hiện đại bằng cách gia tăng ngày càng nhiều yếu tố tri thức, chất xám cho người lao động. Vì vậy, giáo dục – đào tạo cũng tạo ra những thay đổi về chất của người lao động hiện đại so với trước đây.

Nếu như trước đây, giáo dục – đào tạo chỉ tạo ra yếu tố đầu vào của sản xuất vật chất là người lao động với những tri thức, kỹ năng cơ bản thì ngày nay, do yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại; người lao động không chỉ cần được đào tạo ban đầu mà cần được đào tạo liên tục. Vì vậy, trong nền sản xuất hiện đại, ngoài việc tiếp nhận quá trình đào tạo từ trường lớp, người lao động còn được đào tạo từ các trường dạy nghề đặc thù của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh. Đó là quá trình đào tạo lại, đào tạo bổ sung dựa theo đặc điểm nghề nghiệp, công việc.

Trong nền sản xuất hiện đại, giáo dục – đào tạo có vai trò rất quan trọng, trở thành một yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao trình độ, tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật… của người lao động. Do đó, việc những người lao động đã qua đào tạo, nhất là được đào tạo cơ bản, theo đúng nhu cầu của xã hội cũng chính là lợi thế cạnh tranh của người lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất vật chất. Những người lao động đã qua đào tạo đào tạo thường có nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cao, có khả năng nắm bắt và xử lý thông tin nhanh, có thể thích nghi với sự thay đổi liên tục của thị trường lao động… Giáo dục – đào tạo cũng giúp cho người lao động khắc phục được sự mất cân đối giữa công nghệ hiện đại với trình độ của người lao động còn hạn chế. Do đó, có thể khẳng định giáo dục – đào tạo giúp người lao động tự nâng cao được giá trị của mình, tự thích nghi được với những thay đổi của nền sản xuất hiện đại, khiến mình không bị đứng ngoài quá trình sản xuất và tiếp tục trở thành chủ thể, đóng vai trò quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất vật chất.

Như vậy, giáo dục – đào tạo có tác động trực tiếp đến việc thay đổi chất lượng của người lao động hiện đại. Do đó, nó cũng tác động đến việc thay đổi cơ cấu của người lao động trong lực lượng sản xuất. Nếu như trước đây, khi lực lượng phát triển ở trình độ thấp, lao động cơ bắp, thủ công chiếm ưu thế. Trong một doanh nghiệp, tỷ lệ công nhân cổ xanh chiếm đại đa số thì ngày nay, tỷ lệ công nhân cổ xanh đang giảm dần, tỷ lệ công nhân cổ trắng – công nhân tri thức đang ngày một tăng lên. Đó là xu hướng trí thức hóa công nhân đang diễn ra bắt nhịp với xu thế phát triển của thời đại. Xu hướng này cũng phản ánh tính thời đại của người lao động trong lực lượng sản xuất hiện nay.

3. Tác động của môi trường xã hội

Tác động của môi trường xã hội đến đến người lao động trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam

Người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại không chỉ là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất mà còn là chủ thể của xã hội. Do đó, môi trường xã hội cũng có tác động rất lớn đến sự phát triển của người lao động trong thời đại ngày nay.

Môi trường xã hội là điều kiện làm việc, sinh hoạt, ăn ở; là những chế độ, chính sách tác động hàng ngày đến công việc, cuộc sống của người lao động, giúp họ có thêm động lực, phát huy được tối đa năng lực thực tiễn của mình trong quá trình sản xuất vật chất.

Nói đến môi trường xã hội tác động đến người lao động hiện đại, trước hết phải nói đến điều kiện làm việc. Người lao động hiện đại, nhất là người công nhân cần được làm việc trong môi trường hiện đại với công cụ lao động là những máy móc tiên tiến, phương tiện lao động hiện đại, được sử dụng các đối tượng lao động được làm bằng các vật liệu tiên tiến, ít gây tổn hại đến môi trường sinh thái. Những tư liệu sản xuất hiện đại sẽ giúp cho người lao động tạo ra được những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, có tính năng vượt trội, kết tinh được nhiều tri thức, chất xám của người lao động. Ngoài ra, điều kiện làm việc an toàn có tác động rất lớn đến việc bảo vệ sức khỏe, thể lực cho người lao động hiện đại, hạn chế tối đa những tai nạn rủi ro, bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Điều đó tác động trực tiếp đến việc nâng cao thể lực, sức khỏe cho người lao động, tạo ra tâm lý yên tâm trong sản xuất.

Các chính sách xã hội như chính sách tiền lương, chính sách bảo hiểm xã hội hợp lý là một trong những động lực quan trọng trong việc phát triển người lao động hiện đại. Tiền lương không chỉ đảm bảo cuộc sống vật chất của người lao động mà còn tạo thành một động lực để giúp họ chủ động, tích cực làm việc. Tiền lương chính là lợi ích thiết yếu của người lao động. Đây là một khâu nhạy cảm nhất vì xét đến cùng, mọi hoạt động của con người, kể cả hoạt động sản xuất vật chất đều bắt nguồn từ lợi ích. Ngoài ra, các chính sách về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chính sách hỗ trợ thất nghiệp cho người lao động cũng phù hợp với xu thế thời đại vì trong nền sản xuất hiện đại, người lao động cần được chăm sóc toàn diện, lâu dài, cần được hỗ trợ trước những thay đổi liên tục về nghề nghiệp, công việc, môi trường làm việc. Ngoài ra, các chính sách về nhà ở, về môi trường sinh hoạt văn hóa tinh thần cũng tác động rất lớn đến người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại. Đó là những chính sách tạo động lực quan trọng cho người lao động, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần, gia tăng tinh thần trách nhiệm và sự gắn bó với công việc cho người lao động, hạn chế những áp lực trong lao động.

Bên cạnh những chính sách hướng đến các nhu cầu trực tiếp, hàng ngày, các chính sách về pháp luật cũng có tác động đáng kể đến người lao động hiện đại. Người lao động hiện đại cần được trang bị những tri thức pháp luật cần thiết về lao động, quyền hạn và trách nhiệm trong lao động, kỷ luật lao động; được các tổ chức về lao động giúp đỡ, tạo điều kiện để họ nâng cao được ý thức chính trị, ý thức pháp luật của mình; được bảo vệ khi bị mất quyền lợi; được giúp đỡ khi xảy ra tranh chấp về lao động. Đó là những yếu tố góp phần tạo ra những lợi thế nổi bật của người lao động hiện đại so với người lao động trước kia. Họ không chỉ cần được phát triển về thể lực, sức khỏe mà còn được được phát triển về tri thức, ý thức pháp luật, tâm thế chính trị của mình trong nền sản xuất hiện đại.

Một trong những đặc điểm của người lao động hiện đại là tính sáng tạo và khả năng ứng dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn. Môi trường xã hội có tác động đáng kể đến việc phát huy phẩm chất này của người lao động hiện đại. Nếu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh có những chính sách hợp lý, điều kiện làm việc và chính sách đãi ngộ tốt sẽ kích thích tính sáng tạo, tinh thần tự giác của người lao động; khiến người lao động được tự do sáng tạo theo khả năng của mình, biến quá trình lao động là quá trình sáng tạo và cống hiến chứ không phải là quá trình lao động bị cưỡng bức, bị trói buộc bởi những quy tắc cứng nhắc. Ở một số nước tiên tiến trên thế giới, để thu hút nguồn lao động có trình độ tay nghề cao, họ đã có những chính sách đãi ngộ tốt, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động được làm việc, quan tâm đến cả lợi ích vật chất và tinh thần cho người lao động. Do đó, các quốc gia đó không chỉ thu hút được nguồn lao động tại chỗ mà còn thu hút được nguồn lao động tinh hoa từ nhiều nước khác, tạo nên những lợi thế cạnh tranh về lao động. Đó chính là những nước có nền sản xuất hiện đại, với lực lượng sản xuất ở trình độ cao.

4. Tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại

Tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đến người lao động trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam

Trong lịch sử nhân loại, đã từng có những cuộc cách mạng công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng và phát triển kinh tế – xã hội của con người nói chung.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất kéo dài từ cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19, đánh dấu bằng sự ra đời của động cơ hơi nước, sau đó là động cơ đốt trong, mở rộng sử dụng nhiên liệu than đá, xây dựng các tuyến đường sắt, mở ra kỷ nguyên sản xuất cơ khí và phát triển giao thương..

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ 19 kéo dài tới đầu thế kỷ 20, với sự ra đời của máy phát điện, đèn điện, động cơ điện, mở rộng việc sử dụng điện năng trong sản xuất, mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu vào thập niên 1960. Đặc điểm của cuộc cách mạng này là lần đầu tiên con người đã sáng tạo ra một loại máy có thể thay thế một phần quan trọng của lao động trí óc – đó là máy tính (chứ không như các loại máy cơ khí và điện khí chỉ thay thế lao động cơ bắp). Sự ra đời của chất bán dẫn đã dẫn tới việc sáng chế ra các siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990).

Trên cơ sở phát triển mạnh mẽ và toàn diện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, đặc biệt là các công nghệ số với phần cứng máy tính, phần mềm và hệ thống mạng trở nên ngày càng phổ biến, được tích hợp cả về tính năng lẫn phạm vi ứng dụng, từ đó làm biến đổi sâu sắc đời sống xã hội cũng như nền kinh tế toàn cầu. Đó cũng là cơ sở ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (FIR) vào giữa thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21.

So sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư phát triển với tốc độ ở cấp số nhân chứ không phải cấp số cộng. Hơn nữa, nó đang làm biến đổi mọi nền công nghiệp ở mọi quốc gia. Bề rộng và chiều sâu của những thay đổi này tạo nên sự biến đổi của toàn bộ các hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị. Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là khoa học – công nghệ sẽ tạo ra năng suất vượt bậc, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm, dịch vụ tăng; chi phí thương mại giảm sẽ làm tăng doanh thu toàn cầu, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, nâng cao tính tiện ích cho cuộc sống cá nhân.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động mạnh mẽ đến sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế thế giới chuyển sang kinh tế tri thức – “thông minh”. Các thành tựu mới của khoa học – công nghệ được ứng dụng để tối ưu hóa quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng và quản lý, quản trị… Từ góc độ cơ cấu ngành kinh tế, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm “mờ dần” tính chất giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Từ góc độ tiêu dùng, người dân được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng với chi phí thấp hơn.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường ở tất cả các cấp – toàn cầu, khu vực và từng quốc gia. Cuộc cách mạng này cũng có tác động to lớn đến phát triển lực lượng sản xuất hiện đại nói chung và phát triển nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại nói riêng. Với việc tăng cường tự động hóa và ứng dụng số hóa trong quá trình sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông ngày càng mất dần lợi thế; sản xuất chuyển dịch dần sang những nước phát triển, nhiều lao động có kỹ năng và chuyên môn cao. Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa vào động lực công nghệ và đổi mới sáng tạo thay cho tăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào truyền thống. Điều này cũng đặt ra một thách thức nếu người lao động không có trình độ chuyên môn, không có kỹ năng lao động, không có ý thức tự đổi mới, phát huy tinh thần tích cực, sáng tạo thì tất yếu sẽ trở nên lạc hậu, không bắt nhịp được với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại cũng đặt ra yêu cầu nếu các quốc gia không ưu tiên phát triển nhân tố người lao động theo hướng chuyên sâu tất yếu sẽ không thể tạo ra những lợi thế có tính cạnh tranh. Do đó, khoảng cách giữa những người lao động giản đơn, phổ thông với người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật ngày càng được nới rộng; khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia cũng khó có thể được thu hẹp.

5. Tác động của hợp tác quốc tế

Tác động của hợp tác quốc tế đến người lao động trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam

Vì lực lượng sản xuất hiện đại có tính toàn cầu nên người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại cũng có tính toàn cầu. Do đó, hợp tác quốc tế về lao động trở thành yếu tố tác động trực tiếp đến tính hiện đại của người lao động hiện nay.

Hợp tác quốc tế về lao động là quá trình liên kết, hợp tác trên phạm vi khu vực và thế giới về việc đào tạo, sử dụng lao động. Đây là một xu hướng tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay. Hợp tác quốc tế về lao động tác động đến việc tạo ra một đội ngũ những người lao động trong lực lượng sản xuất có những phẩm chất tiên tiến, có khả năng thích ứng với nhiều doanh nghiệp, nhiều cơ sở sản xuất ở các quốc gia khác nhau. Có thể nói, hợp tác quốc tế về đào tạo lao động sẽ góp phần tạo ra những thay đổi về chất cho lao động trong lực lượng sản xuất. Ngoài ra, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kiểm định, đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế cũng thúc đẩy việc nâng cao chất lượng lao động đã qua đào tạo theo tiêu chuẩn mới, có khả năng thích nghi với những thị trường lao động khắt khe.

Ngoài hợp tác quốc tế về đào tạo lao động còn có hợp tác quốc tế về sử dụng lao động. Trong lực lượng sản xuất hiện đại, người lao động không bị bó hẹp trong phạm vi một cơ sở sản xuất, của một quốc gia mà có thể tham gia vào thị trường lao động ở nhiều nước trên thế giới. Với các nước có trình độ phát triển lực lượng sản xuất còn thấp, việc hợp tác quốc tế về sử dụng lao động sẽ cho phép tiếp nhận, sử dụng đội ngũ chuyên gia, những người lao động có trình độ cao, có khả năng sử dụng những công nghệ tiên tiến để chuyển giao khoa học – công nghệ trong sản xuất. Từ đó, họ được đội ngũ chuyên gia này đào tạo để nâng cao trình độ, tay nghề. Ngoài ra, chính bản thân các nước này cũng có thể xuất khẩu sang các nước phát triển đội ngũ công nhân lành nghề, đã qua đào tạo để tạo ra nguồn thu nhập cao, kim ngạch xuất khẩu lớn. Xuất khẩu lao động sẽ tạo đà để các nước có thể hợp tác trong phát triển lực lượng sản xuất, chuyển giao khoa học – công nghệ

Ngoài ra, xuất khẩu lao động ra nước ngoài sẽ mở ra cơ hội sử dụng số lao động có trình độ cao nhưng chưa được sử dụng hoặc chưa được sử dụng một cách hợp lý vào việc sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ tại nước khác, mang lại thu nhập cho người lao động. Có thể nói, xuất khẩu lao động cũng góp phần tác động đến sự phân công lao động quốc tế một cách hợp lý hơn. Theo quy luật đào thải khắt khe của thị trường lao động quốc tế, những lao động đã qua đào tạo, có trình độ cao có thêm nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cao; ngược lại, những lao động phổ thông, ở trình độ thấp dù được xuất khẩu lao động cũng chỉ có thể làm những công việc giản đơn, có nhiều nguy cơ bị sa thải. Do đó, những nước có nền kinh tế phát triển sẽ tạo ra lực hút mạnh để thu hút lao động ở các nước có nền kinh tế phát triển kém hơn.

Để có thể ra nước ngoài làm việc, người lao động phải có kỹ năng nghề nghiệp và trình độ ngoại ngữ nhất định theo yêu cầu của chủ sử dụng. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi lao động muốn ra nước ngoài làm việc đều có thể đạt được các yêu cầu của nhà tuyển dụng. Vì vậy, phải tổ chức huấn luyện và đào tạo lại cho người lao động. Để thực hiện việc này có hiệu quả, Chính phủ phải đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác đảm bảo cho việc đào tạo và đào tạo lại người lao động. Điều này sẽ tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngắn hạn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại trong dài hạn. Trong ngắn hạn, di chuyển lao động ra làm việc ở nước ngoài sẽ là một trong các con đường vừa giải quyết việc làm cho số lao động thất nghiệp, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu, nâng cao sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập. Trong dài hạn, trình độ người lao động đi làm việc ở nước ngoài được nâng cao nhờ được đào tạo và đào tạo lại trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Chính người lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ là động lực của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì đây là nguồn lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư theo chiều sâu. Bên cạnh đó, nếu được làm việc trong môi trường công nghiệp hiện đại, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, trình độ tay nghề và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động cũng ngày càng được nâng cao. Ngoài ra, hợp tác quốc tế về lao động cũng góp phần đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất. Trong quá trình làm việc, người lao động trực tiếp sử dụng sử dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ. Theo quy luật nhận thức, người lao động từ bắt chước để làm theo, sau đó là cải tiến và cuối cùng là sáng tạo. Kinh nghiệm Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ixraen cho thấy, những người lao động đi làm việc ở nước ngoài, sau khi về nước, họ mang những tri thức đã tích luỹ được áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Chính lực lượng lao động này đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình đưa công nghệ mới vào sản xuất. Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng sử dụng khoa học – công nghệ tiên tiến.

Như vậy, có bốn yếu tố cơ bản tác động đến phát triển người lao động trong xây

dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay. Đó là giáo dục – đào tạo, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, môi trường xã hội phù hợp và công tác hợp tác quốc tế về đào tạo và sử dụng lao động. Những yếu tố này ở những mức độ khác nhau đã và đang tác động đến tính hiện đại của người lao động trong lực lượng sản xuất hiện nay, góp phần gia tăng cả chất và lượng cho người lao động, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất trong thời kỳ hội nhập quốc tế.