- 1. Top 3+ bài văn mẫu cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang chọn lọc hay nhất
- Bài văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang - Mẫu số 1
- Bài văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang - Mẫu số 2
- Bài văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang - Mẫu số 3
- 2. Dàn ý bài văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang
1. Top 3+ bài văn mẫu cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang chọn lọc hay nhất
Bài văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang - Mẫu số 1
Phong trào thơ mới đã mở ra một thời đại mới của nền văn học Việt Nam, đã có rất nhiều những sự đột phá của các nhà thơ cùng sự ra đời của rất nhiều những tác phẩm có chất lượng làm phong phú thêm kho tàng văn học của dân tộc. Nhắc đến thơ mới, chúng ta không thể không nói tới thi phẩm "Tràng Giang" của nhà thơ Huy Cận. Bài thơ là một sự kết hợp hoàn hảo giữa yếu tố cổ điển và hiện đại, cách sử dụng những câu chữ đơn giản mà đầy tinh tế để tạo nên một bức tranh mênh mông hùng vĩ của thiên nhiên và ẩn sâu trong đó cũng mà một nỗi niềm u buồn chất chứa, một sự bế tắc không tìm ra lối thoát của một kiếp người đang lênh đênh, vô định trên dòng đời. Đặc biệt, hai khổ thơ đầu của bài thơ đã mang tới những nỗi niềm khó nói cho người đọc.
Ngay từ những câu thơ đầu tiên, nhà thơ Huy Cận đã mang tới một con sông với biết bao nỗi buồn sâu thẳm trong đó:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Một loạt những từ ngữ mang sắc thái gợi cảm như "buồm", "xuôi mái", "sầu trăm ngả", "lạc mấy dòng" đã mang tới cho người đọc một cảm giác thê lương đến khó tả. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các từ láy như "điệp điệp", "song song" càng khiến cho nỗi buồn ấy trở nên vô tận giữa thời thế đầy rẫy những bất công lúc bấy giờ. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh con thuyền xuôi mái và đặc biệt là hình ảnh của cành củi khô trôi lạc dòng để gợi nên sự cô độc đến buồn thương. Những nét chấm phá vừa cổ điển vừa có sự hiện đại càng làm nổi bật thêm những sự ám ảnh với một dòng sông dài nhưng lại trầm tĩnh, u buồn đến mức thật thê lương.
Theo quy luật tự nhiên, nước chảy thì thuyền mới có thể trôi, thuyền và nước luôn chẳng thể tách rời. Ấy vậy mà tác giả lại viết rằng "Thuyền về nước lại sầu trăm ngả". Phải chăng câu thơ có sự khúc mắc gì đó hay đây chính là một sự chia lìa không hề được dự báo trước. Thế nhưng dù hiểu theo ý nghĩa nào thì khi đọc câu thơ chúng ta cũng cảm nhận được một nỗi buồn thật xót xa. Trong cái khung cảnh mênh mông sóng nước ấy có một nỗi buồn thật thê lương, một nỗi buồn đến tột độ. Hình ảnh củi khô xuất hiện ở cuối câu thơ như một điểm nhấn để gợi lên sự bé nhỏ, mỏng manh đầy cô đơn, trôi dạt mặc sự xô đẩy của dòng đời. Câu thơ như nói tới một kiếp người tài hoa thế nhưng lại lận đận giữa cuộc đời.
Những nỗi buồn, sự hiu quạnh lại tiếp tục được tăng thêm bội phần ở trong khổ thơ thứ hai:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Ở khổ thơ này tác giả đã làm hiện lên hình ảnh của một làng quê với những cồn nhỏ lơ thơ đang quạnh hiu trước gió, hình ảnh ấy khiến cho người đọc không khỏi nặng lòng khi nghĩ về. Ngay cả phiên chợ chiều ở nơi xa vốn phải đông đúc, tấp nập thế nhưng chẳng thể nghe thấy những tiếng ồn ào. Liệu có phải chăng phiên chợ ấy cũng vắng lặng, đìu hiu không có người. Từ "đâu" trong câu thơ cũng được cất lên một cách thật thê lương, dường như chẳng có điểm tựa để bấu víu vào đó. Đây cũng là một câu hỏi tu từ để lại biết bao nhiêu nỗi niềm chất chứa, liệu rằng tác giả đang hỏi người hay đó là câu hỏi dành cho chính bản thân mình. Trong cái khung cảnh hoang sơ, tiêu điều ấy khiến cho lòng người trở nên thật đau đớn, xót xa. Ở hai câu thơ cuối đoạn hai, Huy Cận đã có một cách sử dụng từ ngữ vô cùng độc đáo. Cũng chính bởi cách sử dụng độc đáo ấy đã lột tả một cách rõ ràng cảm xúc của nhân vật trữ tình khi được đứng trước thiên nhiên rộng lớn kia. Những chuyển động lên - xuống đối lập nhau cùng cách tạo ra vế đối nắng xuống - trời lên đã tạo ra một cảm giác đầy ngột ngạt, bí bách đang dồn nén con người vào giữa, khiến ta thấy sự chán chường trong vận động xoay guồng của tạo hoá. Tác giả không sử dụng cao chót vót mà sử dụng cụm "sâu chót vót" thật khác lạ, độc đáo. Cụm từ ấy vừa diễn tả được độ sâu, độ cao lại vừa mang tới cảm giác mở cho những xúc cảm của người đọc. Và để tiếp nối các mạch cảm xúc ấy chính là những sự cô liêu, cô đơn đến cùng cực của những con người - một sự cô đơn giữa sông dài trời rộng, giữa sự vô tận của không gian.
Hai khổ thơ đầu khép lại nhưng đã mang tới cho người đọc những cảm nhận về khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, những nỗi sầu nhân thế của tác giả Huy Cận. Những nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương và cả sự cô đơn, hiu quạnh thế nhưng tác giả chẳng biết gửi vào đâu. Đó là những sự lẻ loi, cô đơn của con người nhỏ bé trước dòng đời vần xoay, xô đẩy, không tìm thấy sự kết nối với thế giới ngoài kia. Có lẽ bởi vậy mà bài thơ vẫn luôn nhận được những sự đón nhận của độc giả đến ngày nay.
(3).jpg)
Bài văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang - Mẫu số 2
Bài thơ Tràng Giang của Huy Cận là một trong những thi phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới, kết tinh sâu sắc nỗi buồn nhân sinh và cảm giác cô đơn của con người trước không gian vũ trụ mênh mang. Hai khổ thơ đầu của bài thơ không chỉ mở ra bức tranh thiên nhiên rộng lớn, vắng lặng mà còn bộc lộ rõ nét tâm trạng sầu muộn, lạc lõng của cái tôi trữ tình.
Ngay từ những câu thơ mở đầu, Huy Cận đã dẫn người đọc bước vào một thế giới sông nước bao la, thấm đẫm nỗi buồn:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.”
Chỉ một chuyển động rất nhẹ của “sóng gợn” trên dòng “tràng giang” đã đủ làm lan tỏa cảm giác mênh mang, vô tận. Từ láy “điệp điệp” không chỉ gợi hình ảnh sóng nước nối tiếp nhau không dứt mà còn diễn tả nỗi buồn chồng chất, triền miên trong lòng thi nhân. Huy Cận không trực tiếp nói đến nỗi buồn của mình mà gửi nó vào cảnh vật, để thiên nhiên tự mang tâm trạng con người. Trên nền sóng nước ấy là hình ảnh con thuyền “xuôi mái” – một tư thế buông trôi, phó mặc. Đặc biệt, từ “song song” gợi ra cảm giác cận kề mà xa cách, như những kiếp người sống bên nhau nhưng không có sự hòa hợp, càng làm nổi bật nỗi cô đơn thầm lặng.
Sang đến hai câu tiếp, cảm giác chia lìa càng được đẩy lên rõ nét hơn:
“Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Kết cấu “thuyền về – nước lại” diễn tả hai hướng chuyển động ngược chiều, báo hiệu sự tan tác, chia lìa. Nỗi buồn vì thế không còn âm thầm mà lan ra khắp “trăm ngả” trong không gian. Ấn tượng sâu sắc nhất của khổ thơ là hình ảnh “củi một cành khô” – một hình ảnh rất đời thường, trần trụi. Cành củi khô nhỏ bé, vô tri, bị dòng nước cuốn trôi đã trở thành biểu tượng cho thân phận con người lạc loài, cô độc giữa dòng đời rộng lớn. Qua đó, nỗi sầu của nhà thơ không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Nếu khổ thơ thứ nhất tập trung vào mặt nước với những hình ảnh cụ thể, thì khổ thơ thứ hai lại mở rộng tầm nhìn ra không gian toàn cảnh của bến sông:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.”
Các từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi lên một không gian thưa vắng, hoang lạnh. Trên đôi bờ sông chỉ còn lại những cồn nhỏ trơ trọi giữa gió hiu hắt. Trong khung cảnh ấy, thi nhân khao khát tìm kiếm một chút hơi ấm của cuộc sống con người qua “tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Tuy nhiên, âm thanh ấy mơ hồ, xa xôi, không rõ có hay không, càng làm nổi bật cảm giác trống vắng và nỗi cô đơn thấm thía.
Hai câu thơ cuối khổ đã đẩy cảm giác rợn ngợp trước không gian vũ trụ lên cao độ:
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Hai chuyển động “nắng xuống”, “trời lên” mở ra chiều cao và chiều sâu của không gian, khiến bức tranh thiên nhiên trở nên mênh mông đến choáng ngợp. Cách dùng từ “sâu chót vót” vừa mới mẻ vừa gợi cảm giác con người trở nên nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Câu thơ cuối là sự tổng kết đầy ám ảnh: giữa “sông dài” và “trời rộng”, chỉ còn lại “bến cô liêu” – điểm tụ của nỗi buồn, nơi con người cảm thấy mình đơn độc đến tuyệt đối.
Qua hai khổ thơ đầu của Tràng Giang, Huy Cận đã khắc họa thành công một bức tranh thiên nhiên rộng lớn, hoang vắng, đồng thời gửi gắm nỗi sầu nhân sinh sâu kín của mình. Thiên nhiên không chỉ là cảnh mà đã trở thành tâm cảnh, phản chiếu cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước cuộc đời và vũ trụ. Chính sự hòa quyện hài hòa giữa bút pháp cổ điển và cảm xúc hiện đại ấy đã làm nên sức sống bền lâu cho thi phẩm, khiến Tràng Giang trở thành một bài thơ giàu ám ảnh trong lòng người đọc.
Bài văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang - Mẫu số 3
Nhà thơ Huy Cận được biết tới là một hồn thơ "cổ điển nhất trong phong trào thơ mới". Những tác phẩm ông đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam đều là những tác phẩm đặc sắc, vừa cổ điển nhưng lại vẫn mang những nét hiện đại. Nhà thơ Huy Cận đã mang đến một hồn thơ với những nỗi buồn thiên cổ đầy sầu mộng, rồi lượm lặt những nỗi buồn nhân thế để mang vào trang thơ của mình. Một trong những bài thơ thể hiện rõ nét nhất phong cách thơ Huy Cận phải kể tới bài thơ Tràng Giang. Đặc biệt, hai khổ thơ đầu đã tái hiện một bức tranh cảnh vật có chút buồn man mác được bao phủ lên trên đó.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng những hình ảnh thơ đầy quen thuộc để gợi nên cảm xúc của người đọc:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Từ "tràng giang" đã gợi ra cho người đọc một không gian rộng lớn, rợn ngợp. Trong không gian ấy tâm trạng của nhà thơ được mở ra "buồn điệp điệp". Nỗi buồn ấy đã được cụ thể hoá, được hữu hình thành những đợt sóng dâng trào, vỗ vào bờ không ngừng nghỉ. Đó là một nỗi buồn dai dẳng âm ỉ, như thể nỗi buồn ấy sẽ tồn tại trường tồn với thời gian. Thuyền và nước luôn đồng hành cùng với nhau bởi nước chảy thì thuyền mới có thể trôi. Thế nhưng từ "song song" mang tới cho người đọc cảm giác con thuyền và dòng nước ấy thuộc về hai thế giới, chúng ở cạnh nhau thế nhưng lại chẳng thể nào gặp được nhau. Hình ảnh thơ ấy đã nhấn mạnh, làm nổi bật sự cô đơn, lẻ loi của con thuyền trên dòng sông, đó cũng có thể là sự cô đơn của con người ở bên dòng đời. Tác giả đã khéo léo sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập để tạo nên những nét cổ kính cho khổ thơ. Trong câu thơ, hình ảnh thuyền và nước lại không cùng nhịp với nhau, tạo nên một sự xa cách, một cảm giác cô đơn:
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Hình ảnh cành củi khô ấy có thể nói là hình ảnh độc đáo, có một không hai trong thơ ca Việt Nam. Bởi xưa nay những hình ảnh trong thơ ca thường là các hình ảnh trữ tình, có giá trị, hiếm khi nào những vật tầm thường như vậy được đem vào thơ, nhất là trong thơ mới. Thế nhưng nhà thơ Huy Cận đã thả một cành củi khô vào trong thơ mình, như để nói hộ nỗi niềm của cả một thế hệ thơ mới, Hình ảnh ấy dù giản dị, đời thường thế nhưng lại mang tới giá trị biểu đạt rất lớn. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ, cùng các sử dụng các từ đơn làm cho câu thơ như gãy ra, vỡ vụn. Chỉ với bảy tiếng trong một câu thơ thế nhưng tạo cảm giác như đã vỡ ra thành sáu mảnh cô đơn, những sự cô đơn của cành củi khô và sự vô tận của dòng nước.
Đến khổ thơ thứ hai, những cảnh vật vắng vẻ, cô quạnh khiến cho tầm nhìn được mở rộng hơn:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Trong câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng các từ ngữ như "lơ thơ", "đìu hiu" gợi nên cho người đọc những cảm giác của sự thưa thớt, khiến con người có cảm giác buồn khi đứng trước một quang cảnh rộng lớn. Bên cạnh sự cảm nhận bằng thị giác, tác giả còn cảm nhận không gian bằng thính giác - cảm nhận âm thanh cuộc sống qua tiếng chợ chiều. Phải chăng cảnh vật ở đây đang thiếu đi hơi ấm của cuộc sống con người, cần tìm tới sự tri ân của con người. Ở câu thơ thứ hai, từ "đâu" mở đầu khiến cho câu thơ mang nhịp điệu chậm lại, những sự buồn nhuốm sâu vào cảnh vật. Không gian ở đây lại được thắp sáng lên bởi màu nắng, cả chiều rộng, chiều cao và độ sâu đều được tăng thêm. Qua những câu thơ tác giả đã gợi lên một không gian được mở rộng đến tận cùng, điều đó càng làm nổi bật lên sự cô đơn của con người trước cuộc đời. . Dường như tác giả chẳng thể nào tìm được sợi dây liên kết với cuộc đời, khiến người đọc cảm thấy sự vô vọng tràn đầy trong từng câu chữ.
Qua hai khổ thơ đầu bài thơ Tràng Giang, nhà thơ Huy Cận đã khắc hoạ một không gian rộng lớn, thế nhưng con người ở đây lại mang một tâm trạng sầu buồn, cô đơn, mang những nỗi buồn như trải dài vô tận. Đó cũng chính là sự cô độc, lẻ loi của con người khi không tìm thấy sự kết nối của bản thân với cuộc đời, với dòng đời.
2. Dàn ý bài văn cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang
I. Mở bài
– Giới thiệu tác giả Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, hồn thơ giàu suy tư, thấm đẫm nỗi buồn trước không gian và cuộc đời.
– Giới thiệu bài thơ Tràng Giang và hoàn cảnh sáng tác.
– Khẳng định hai khổ thơ đầu giữ vai trò mở đầu quan trọng, đặt nền tảng cho không gian nghệ thuật và cảm xúc chủ đạo của toàn bài, thể hiện nỗi buồn cô đơn, lạc lõng của cái tôi trữ tình.
II. Thân bài
Cảm nhận khổ thơ thứ nhất: Nỗi buồn chia lìa và thân phận trôi nổi
– Bức tranh sông nước mênh mang mở ra cùng nhịp sóng buồn kéo dài vô tận.
– Hình ảnh con thuyền xuôi mái gợi cảm giác buông trôi, mất phương hướng.
– Quan hệ thuyền – nước “song song” thể hiện sự gần gũi về không gian nhưng xa cách về tâm hồn.
– Sự chia lìa hiện rõ trong hình ảnh “thuyền về nước lại”, làm nỗi sầu lan tỏa khắp không gian.
– Hình ảnh cành củi khô trôi lạc là điểm nhấn kết tinh cảm giác cô đơn, nhỏ bé của kiếp người.

Cảm nhận khổ thơ thứ hai: Cái tôi lạc lõng trước không gian vô biên
– Không gian đôi bờ vắng vẻ, thưa thớt với gió hiu hắt, cồn nhỏ lơ thơ.
– Khát vọng tìm dấu vết con người qua âm thanh chợ chiều xa xôi nhưng chỉ nhận về sự mơ hồ, trống trải.
– Không gian được mở rộng theo chiều cao, chiều sâu và chiều ngang, tạo cảm giác rợn ngợp.
– Hình ảnh “bến cô liêu” khép lại khổ thơ, nhấn mạnh nỗi cô đơn tuyệt đối của con người giữa trời rộng sông dài.

III. Kết bài
– Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của hai khổ thơ đầu bài Tràng Giang.
– Nhấn mạnh tài năng của Huy Cận trong việc kết hợp hài hòa bút pháp cổ điển với cảm quan hiện đại.
– Liên hệ cảm xúc: hai khổ thơ không chỉ thể hiện nỗi buồn cá nhân mà còn gợi nỗi sầu chung của con người trước cuộc đời và vũ trụ bao la.