1. Cảm nhận về bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên - mẫu 1
Dòng thời gian cứ trôi đi, mọi thứ cũng xoay chuyển và dần đi vào dĩ vãng để lại những sự nuối tiếc khôn nguôi trong lòng người, đặc biệt là những vẻ đẹp tài hoa đã vang bóng một thời. Trong văn hoá cổ truyền của dân tộc Việt Nam, hình ảnh những ông đồ mỗi dịp Tết đến xuân về đã trở thành một hình ảnh đặc trưng, là một phần không thể thiếu trong dịp này. Nhưng dường như theo thời gian hình ảnh ấy đã lùi dần vào quá khứ. Bắt nguồn từ nguồn cảm hứng ấy, nhà thơ Vũ Đình Liên đã cho ra đời bài thơ Ông đồ. Bài thơ giống như một sự hoài niệm, tiếc nuối cho một giá trị tinh thần sắp tàn lụi và cũng là một tấm gương để phản chiếu một tâm hồn giàu tình thương và sự hoài cổ của chính tác giả.
Ngày xưa, những ông đồ là người được học hành, đào tạo trong nền văn hoá Nho giáo nên họ có khả năng viết chữ nho một cách điêu luyện và rất đẹp. Chính vì vậy, mỗi khi Tết đến các ông đồ thường bày đồ nghề để cho người ta đến xin chữ với mong muốn một năm được thuận buồm xuôi gió. Hình ảnh của ông đồ đã gắn liền với biết bao thế hệ, đã in đậm trong tâm trí của bao người khi xuân về:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Trên cành những cành hoa đào nở rộ khiến cho người đọc cảm nhận được không khí của ngày Tết, của một mùa xuân mới đang kéo về. Con người dường như trở nên khoan khoái, vui tươi để chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong một năm. Vào khoảnh khắc ấy, ông đồ lại bày những đồ nghề đơn giản của mình, chỉ là những "mực tàu, giấy đỏ" trên những con phố tấp nập người qua lại để thể hiện tài năng của mình qua một công việc thật ý nghĩa. Ông đồ được tác giả nhắc đến như một điều thân thương, quen thuộc. Trái với khung cảnh tấp nập, đông đúc trên đường phố, ông đồ vẫn ngồi đấy bình dị nhưng lại là tâm điểm nhận được rất nhiều sự chú ý. Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh thật sống động, một bức tranh có đầy đủ âm thanh, màu sắc và cả những kí ức tươi đẹp về những ngày xuân xưa. Hình ảnh ông đồ ngồi trên phố ấy đã mở ra bốn câu thơ tiếp theo:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
Ông đồ ngồi trên phố đông thật giản dị, thân quen là vậy thế nhưng nhờ tài hoa của mình mà ông đã thu hút được biết bao nhiêu người. Mọi người ai cũng muốn xin chữ, xin những điều tốt đẹp từ ông. Và chắc hẳn ông đồ cũng cảm thấy vui mừng trong lòng khi được nghe những câu nói "ngợi khen tài" từ mọi người, điều đó thể hiện một sự trân trọng mà họ dành cho ông nên mới có "bao nhiêu người thuê viết". Hành động xin chữ ấy mang một ý nghĩa to lớn, vừa đề cao việc học hành để có kiến thức, đề cao những mối quan hệ của mỗi con người và hướng con người ta theo một con đường tốt đẹp nhất. Những câu thơ trong đoạn thơ này đều tập trung vào miêu tả sự tài năng của ông đồ. Những chữ ông viết ra không chỉ là những con chữ bình thường, đó còn là một tác phẩm thư pháp với rất nhiều tầng ý nghĩa nghệ thuật ở trong đó. HÌnh ảnh một ông đồ dáng vẻ khoan thai, tay đưa những nét nhẹ nhàng viết từng chữ như "phượng múa rồng bay" càng cho thấy được cái tài, cái tâm của ông đồ được thể hiện qua từng nét bút. Những nét chữ ấy đã chứa đựng cả một tâm hồn, cả một sự tinh hoa cũng như những khát vọng, lý tưởng của ông đồ. Những con chữ ông viết ra là cả một sự sáng tạo không ngừng nghỉ, một sự biến hoá những con chữ ấy thành những tác phẩm khác nhau.
Thế nhưng đến đoạn thơ thứ ba, những sự vui tươi, hứng khởi ở hai đoạn thơ đầu đã trùng xuống, những dòng suy nghĩ của tác giả đã trở về với thực tại:
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
Từ "nhưng" xuất hiện ngay đầu đoạn thơ như một dấu hiệu của sự biến động, một sự chuyển biến dần dần đã được xuất hiện. Điệp từ "mỗi" trong câu thơ đầu tiên khiến cho cả không gian và thời gian đều như dài ra, đều lắng đọng và trùng xuống. Cái sự kéo dài ấy như để tự an ủi cho thực tại giờ đây việc xin chữ đang dần trở nên ít đi, mỗi năm lại càng thêm vắng vẻ. Tác giả cũng tự đặt cho mình câu hỏi, cũng là một câu hỏi về thời thế, không biết những người thuê viết nay đâu, liệu có phải những tình cảm họ dành cho chữ Nho đã phai nhạt dần khi giờ đây chữ Quốc ngữ đang ngày càng phát triển theo dòng chảy của thời đại. Người không được thuê viết nữa cũng khiến cho những vật đã từng được sử dụng để viết chữ kia cũng trở nên thấm đẫm nỗi buồn. Những tờ giấy đỏ giờ đây chẳng còn thắm nữa, mực thì đọng lại trong nghiên với một nỗi sầu thảm.
Giờ đây, sự xuất hiện của ông đồ chẳng được mấy người quan tâm, nó trái ngược hoàn toàn với những sự kính trọng, tin yêu của mọi người dành cho ông đồ khi xưa:
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Hình ảnh của ông đồ "vẫn ngồi đấy" giống như xưa, vẫn là cái dáng vẻ điềm đạm, cao quý như năm nào thế nhưng giờ đây người ta đáp lại ông bằng một sự thờ ơ, lạnh nhạt, người đi qua đi lại nhưng chẳng ai hay biết đến ông. Tác giả đã đứng từ xa quan sát và rồi phải thốt lên đầy cay đắng ngậm ngùi, thốt lên vì nỗi xót xa cho sự nghiệp của những ông đồ. Những sự lãng quên, sự thờ ơ với những ông đồ lúc này thật đáng khiến người đọc phải suy nghĩ và đồng cảm.
Có lẽ từ giây phút ấy việc xin chữ đầu năm đã trở thành một kí ức đẹp trong tâm trí của những người thuộc thế hệ cũ, những người đã được tận mắt chứng kiến, thưởng thức khoảng thời gian tươi đẹp của những ông đồ. Nhà thơ đã khắc họa một bức chân dung rất thực về những ông đồ, đồng thời gửi đến thông điệp tục xin chữ ngày Tết là một truyền thống đẹp, đáng được lưu truyền bởi đó không chỉ là một phong tục, mà còn là một giá trị văn hóa tinh hoa của dân tộc.
Bài thơ "Ông đồ" là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất của nhà thơ Vũ Đình Liên. Bài thơ đã thành công trong việc bộc lộ những tình cảm chân thành của tác giả với một nét đẹp văn hoá của dân tộc - tục xin chữ đầu năm. Dẫu cho thời gian có trôi đi, Nho giáo không còn phát triển nữa thế nhưng hình ảnh của ông đồ trong bài thơ sẽ luôn sống cùng năm tháng.
2. Cảm nhận về bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên - mẫu 2
Nhà thơ Vũ Đình Liên đến với thơ ca một cách đầy lặng lẽ thế nhưng cũng không kém phần nổi bật. Mặc dù trong phong trào Thơ mới, tên tuổi của ông không được đình đám như những Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử hay Nguyễn Bính... thế nhưng những gì ông tạo ra cũng đủ để làm nên một hiện tượng khác thường. Bài thơ Ông đồ của ông được coi là một trong những thành công bậc nhất của ông. Nhà thơ sử dụng thể thơ năm chữ ngắn gọn cùng với ngôn từ thật giản dị thế nhưng đã gửi vào đó biết bao nỗi niềm tâm sự về nhân tình, thế thái. Bởi vậy mà Hoài Thanh đã nói về bài thơ này như sau: "Ít có bài thơ nào bình dị mà cảm động đến vậy".
Mở đầu bài thơ, hình ảnh của ông đồ đã hiện lên trong những suy nghĩ, hoài niệm của nhà thơ về những ngày xưa cũ:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Mỗi năm Tết đến xuân về, người ta lại bắt gặp hình ảnh của những ông đồ bày đồ nghề đơn sơ chỉ có mực tàu, giấy đỏ trên những con phố đông đúc, tấp nập người qua lại để cho chữ. Từ "lại" nghe thật hãnh diện, nó đã như ngầm xác nhận một vị trí quan trọng của ông đồ trong ngày Tết. Dường như ông đồ là một phần không thể thiếu, là một hình ảnh đã in đậm vào kí ức của con người trong tết xưa. Có lẽ người ta cảm nhận được hương vị của Tết khi mà nhìn thấy những ông đồ trên đường. Những câu thơ như vẽ nên trước mắt người đọc một khung cảnh nhộn nhịp của những ngày Tết xưa. Trên khắp các nẻo đường là những tiếng gọi nhau, những lời chúc mừng và nơi góc phố đông là những ông đồ đang ngồi đó, lặng lẽ dùng tài hoa của mình để làm đẹp cho đời. Những nét bút thần kỳ của ông đồ được biết bao nhiêu người trầm trồ, thán phục:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
Thế nhưng giờ đây khi thời thế đã đổi thay, những người yêu và nhiệt thành với chữ Nho dường như cũng ngày càng ít đi, phong tục treo chữ, xin chữ ngày Tết cũng đã dần biến mất. Năm sau trở lại, những hình ảnh của ông đồ trên con phố quen thuộc xưa kia đã trở nên thật khác lạ:
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
Từ một khung cảnh náo nhiệt, tấp nập trong những ngày tết xưa, giờ đây những ông đồ đã bị rơi vào một hoàn cảnh thật đáng thương. Vẫn trên sân khấu quen thuộc ấy, thế nhưng những người xem đã vãn, một mình ông đồ giờ đây ngồi đấy trông thật buồn. Và nỗi buồn của ông đồ cũng đã lan sang những sự vật quen thuộc đồng hành với ông trong sự nghiệp cho chữ. Giờ đây những tờ giấy đỏ đã bớt thắm, mực giờ đây đã đọng lại trong nghiên vì lâu không được dùng. Giờ đây, trong cái thời mà người ta đua nhau "vứt bút lông đi viết bút chì", ông đồ đã hoàn toàn trở thành quá khứ. Ông đồ vẫn ngồi đấy thế nhưng chẳng còn ai để ý tới ông:
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
Từng câu thơ khiến cho không khí trở nên thật ảm đạm, khiến cho người đọc cảm nhận được những sự hụt hẫng xót thương. Hình ảnh "lá vàng rơi" khiến người đọc liên tưởng tới một sự lụi tàn. Có lẽ người đọc đã giật mình sực nhớ đến việc mình đã đánh mất đi tình yêu với tinh hoa của dân tộc, cái thời đại "nghiên cánh nhạn tách mái rừng Nhan Khổng - Vẫy đuôi kình toan vượt bể Trình Chu" đang dần đến hồi kết. Và cuối cùng, sự kết thúc cũng thực sự đến:
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Mùa xuân lại tới, thế nhưng giờ đây ông đồ không còn ở đó nữa. Cho dù ông đã cố gắng sức để bám víu lấy xã hội thế nhưng có lẽ ông không còn có đủ sức, đủ kiên nhẫn bởi "cơm áo không đùa với khách thơ". Giờ đây ông đồ đã rút lui khỏi xã hội hiện tại, để lùi vào dĩ vãng. Tác giả cũng đã bày tỏ những nỗi băn khoăn, day dứt:
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Nhà thơ không chỉ xót thương cho cá nhân một ông đồ nào mà là xót thương cho cả một lớp người như ông. Tác giả sử dụng một câu hỏi tu từ để khép lại bài thơ nhưng nó đã mở ra một câu hỏi cho người đọc suy ngẫm, trả lời: những ông đồ tài hoa ấy giờ đây đã đi đâu về đâu.
Nói tóm lại, bài thơ Ông đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên đã thể hiện một nỗi niềm hoài cổ, một tình thương yêu của nhà thơ với những ông đồ thời sắp tàn lụi. Tác phẩm của ông cũng muốn nhắc nhở người đọc cần phải biết trân trọng quá khứ và gìn giữ những giá trị tốt đẹp về văn hoá, tinh thần để không phải nuối tiếc, ân hận.
Hy vọng bài viết trên của Luật Minh Khuê đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích, chúc các bạn học tốt.