1. Tóm tắt truyện ngắn "Chiếc lược ngà".

Truyện ngắn " Chiếc lược ngà là lời kể của anh Ba về câu chuyện cảm động về tình cha con sâu sắc giữa ông Sáu và bé Thu. Ông Sáu đi kháng chiến khi con gái ông mới tròn một tuổi. Bé Thu chưa từng một lần gặp ba mà chỉ biết về ba qua tấm ảnh ba chụp chung với má. Mãi khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà. Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không còn giống với người trong bức ảnh chụp mà em đã biết. Em đối xử với ba như với người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương cho đứa con vào việc làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược cho người bạn đó là anh Ba. Anh Ba đã thay ông Sáu trao cho bé Thu chiếc lược và dù ông Sáu đã hy sinh nhưng trong anh Ba thì Tình cha con là không thể chết. Có thể nói, chiếc lược ngà là kỷ vật cuối cùng chứa đựng tình yêu thương cha con vô bờ bến mà ông Sáu đã dành cho bé Thu.

 

2. Cảm nhận về tình cha con trong truyện ngắn chiếc lược ngà.

Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1945, tập kết ra Bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng thuộc nhiều thể loại : Truyện ngắn có "Con chim vàng", "Người quê hương", "Chiếc lược ngà", "Người đàn bà đức hạnh", "Vẽ lại bức tranh xưa"... Sống gắn bó với người lính trong chiến trường và trải qua những cuộc bão táp lịch sử, Nguyễn Quang Sáng được hun đúc bằng tấm chân tình mộc mạc của người dân Nam Bộ. Thế nên văn phong của ông cũng gần gũi, giản dị như một dòng sông chở nặng phù sa. Năm 1966, nhà văn từ miền Bắc về Nam, ghé ngang Đồng Tháp Mười mênh mông nước trắng. Trên cái nhà sàn cao tít, nghe cô giao liên có chiếc lược ngà trắng kể chuyện, Nguyễn Quang Sáng đã hồi hợp như nghe chuyện đời mình,kể từ đó " Chiếc lược ngà" đã ra đời.

Truyện ngắn nói về tình cha con giữa anh Sáu và bé Thu và xoay quanh kỷ vật chiếc lược ngà mà ông Sáu đã làm tặng cho con gái. Chiếc lược là kỷ vật đơn sơ nhưng vô giá và không đong đếm được ý nghĩa chất chứa trong nó. 

Trong thời kỳ kháng chiến, ông Sáu cũng như những người lính khác đó là xung phong đi kháng chiến cứu nước. Ông Sáu tham gia kháng chiến từ khi bé Thu còn nhỏ - khi mà bé chưa biết mặt cha, chưa gọi được tiếng ba. Bé chỉ nhìn cha qua tấm hình và tưởng tượng về người cha kính yêu của mình. Còn anh Sáu cho dù có đi xa, có đổ máu thì tâm trí vẫn hướng về đứa con thơ và vợ hiền ở quê nhà. Sau bao nhiêu ngày mòn mỏi chờ đợi, cuối cùng ông Sáu cũng được về thăm nhà thăm con nhưng thời gian ngắn ngủi chỉ vỏn vẹn vài ngày. Ngày về thăm con, trên xuồng mà anh Sáu cứ nôn nao cả người. Anh đang nghĩ tới đứa con, nghĩ tới giây phút hai cha con gặp nhau như thế nào. Những điều ấy choán hết tâm trí khiến anh không còn biết mình đang ngồi trên xuồng với người bạn. Khi xuồng vừa cập bến, anh Sáu đã nhón chân nhảy thót lên bờ. Người bạn đi cùng cũng rất hiểu anh nên không hề trách. Tôi không thể quên được giây phút vô cùng thiêng liêng và trọng đại của anh Sáu, là giây phút người cha mong chờ đứa con sẽ chạy tới ôm siết lấy mình, là bước trở về sau bao xa cách...

Nhưng mọi thứ không như mong đợi, lần này về bé Thu không còn nhận ra anh Sáu vì vết sẹo trên mặt anh không giống với tấm hình bé Thu hay xem chính vì vậy bé càng trở nên xa lánh không muốn gọi anh là ba chứ không nói gì đến việc gần gũi ba nó. Ba ngày nghỉ phép ở nhà, ông khao khát tình cảm của con bao nhiêu thì thực tế lại phũ phàng bấy nhiêu. Con bé hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm vồ vập của cha. Ông càng xích lại gần, nó càng lùi xa. Ông càng chiều thương, nó càng lẩn tránh. Ông càng mong được nghe tiếng ba, nó càng cố tình lẩn tránh.

Nỗi đau ấy còn dày vò anh trong suốt ba ngày ở nhà. Ba ngày ở nhà anh Sáu không đi đâu xa mà chỉ quanh quẩn ở nhà chơi với con. Anh muốn dùng lời nói, hành động của mình để bù đắp những mất mát về tình cảm cho con bé. Dường như anh muốn bằng những cử chỉ và lời nói yêu thương tràn đầy âu yếm, anh sẽ xoa dịu đi những nghi ngờ, xóa tan những lạnh lùng của con bé đối với anh. Anh muốn ôm con mà nói rằng: "Ba yêu con nhiều lắm Thu à!" và có lẽ chắc anh cũng mong đứa con gái của mình có thể chạy sà vào lòng mà rằng "Con cũng yêu bố nhiều lắm ạ!" thế nhưng không... những gì anh từng mơ ước, từng suy nghĩ, giờ chỉ như giấc mơ không thật bởi chính thái độ của Thu đối với ba nó. Khi mẹ bảo nó gọi bố vào ăn cơm thì con bé đã nói trổng: "Vô ăn cơm!" 

Tình huống càng trở nên éo le, khiến người đọc phải hồi hộp theo dõi từng trang truyện vì thời gian ông Sáu ở nhà không nhiều và dù chỉ còn một ngày nữa, đứa bé vẫn quyết không nhận cha. Có thể coi đó là tình huống thử thách, thử thách để con nhận cha, cha chứng minh với con. Qua tình huống này, tình cha con sâu nặng và cao đẹp càng được thể hiện rõ nét hơn.

Tình cha con sâu nặng và cao đẹp được khẳng định trong cảnh ngộ chiến tranh. Tình cảm cha con được thể hiện qua cả hai nhân vật, đặc biệt là nhân vật ông Sáu. Tác giả không chú ý đến khắc họa phần anh hùng trong cuộc đời ông Sáu mà chỉ chú trọng khắc họa chân dung người cha với những tình cảm sâu sắc, cao đẹp và những nỗi đau, bất hạnh trong cuộc đời ông. Hơn 7 năm trời hai cha con bé Thu không được gặp nhau. Cha con chỉ nhận ra nhau qua tấm hình. Lúc còn ở rừng, ông Sáu nhớ thương con vô cùng. Lúc nào ông cũng khao khát được gặp con, được sống trong tình yêu của con.

Ngọn lửa nồng nàn của lòng cha cứ bị những đối xử xa lánh, ương ngạnh, của nó chối từ kể cả khi nó bị lâm vào thế bí “nồi cơm sôi sùng sục”, kể cả những lời giảng giải của mẹ, nó cũng kiên quyết không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong đợi. Điều đó làm ông Sáu thực sự đau lòng, ông chỉ biết lắc đầu cam chịu bởi tình cảm không dễ gì gượng ép. Ông cố gắng tìm mọi cách để chuyện trò, vỗ về con, gắp trứng cá cho con nhưng không thành. Cơn giận và việc đánh con cũng xuất phát từ nỗi đau khổ của một người cha bị con cự tuyệt. Phút chia tay con trên bến sông, niềm hạnh phúc khi được bé Thu gọi “ba” khiến anh bật khóc.

Khi ở chiến khu, ông thương nhớ con, ân hận vì mình đã đánh con. Bao nhiêu tình cảm yêu thương, nhớ nhung ông dồn vào việc làm chiếc lược ngà, món quà kỉ niệm ông đã hứa tặng con gái ngày ra đi: “Lúc rảnh rỗi anh ngồi cưa từng chiếc răng lược cho đến khi hoàn thành, những đêm nhớ con anh lấy cây lược ra ngắm nghía”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một sản phẩm duy nhất trong đời. Cho nên cây lược ngà kết tinh trong nó tình phụ tử: mộc mạc mà đằm thắm, sâu sa, đơn sơ mà kỳ diệu.

Chiếc lược ngà đối với ông là vật kỉ niệm, vật mang tâm hồn, chứa đựng biết bao tình thương, nỗi nhớ của ông đối với con gái yêu. Chiếc lược là niềm an ủi, động viên ông trong những ngày tháng gian khổ. Có thể nói, chiếc lược ngà là biểu tượng tình cảm cha con – một tình cảm thiêng liêng, sâu nặng và bất diệt. Khi bị thương nặng, biết không thể sống được, ông đã dồn tất cả tàn lực của mình làm một việc: “đưa tay vào túi móc cây lược đưa lại cho ông Ba” như trao lại lời di chúc. Đó là uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng đối với người bạn thân. Chỉ đến khi gửi lại chiếc lược ngà lại cho bạn với lời nhắn nhủ sẽ trao tận tay bé Thu, ông mới yên lòng nhắm mắt.

Ở nhân vật bé Thu, ban đầu, khi ông Sáu mới về, bé Thu không chịu thừa nhận cha: không chịu vâng lời ông Sáu nói, không gọi “ba”, nói trống không, hất miếng trứng cá mà ông Sáu gắp cho nó ra khỏi bát, bỏ sang nhà ngoại khi giận ông Sáu. Nhưng khi hiểu ra thì lại thấy rằng: chính thái độ ương ngạnh, ngang bướng đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm phụ tử. Đơn giản vì vết thẹo dài trên má người đang xưng là ba đây lại không giống với ảnh ba mình, thắc mắc thầm kín trong lòng nó.

Sau khi được bà ngoại giải thích cặn kẽ, bé Thu mới hiểu ra đó là ba mình. Tiếng thét của bé Thu “Ba…a…a…ba!” chứa đựng tất cả tình yêu thương, nỗi nhớ và sự ân hận. Cô bé nhất định “không cho ba đi nữa”,“hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”… Lớn lên, Thu trở thành một cô giao liên dũng cảm, cùng tham gia kháng chiến, tiếp bước con đường của cha cô, để lý tưởng của cha còn sáng mãi. Hai cha con quả “đã thành đồng chí chung câu quân hành”.

Chiếc lược ngà chính là biểu tượng cao quý của tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Tác phẩm là một bài ca cảm động về tình phụ tử thiêng liêng. Tình phụ tử được biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau. Dù ở hoàn cảnh nào, gặp khó khăn nào tình phụ tử cũng không thể bị chia cắt. Tình phụ tử là nguồn động lực to lớn để con người vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống. Đó là tình cảm thiêng liêng, cao quý, đáng trân trọng.

Tác phẩm có cốt truyện chặt chẽ, cách lựa chọn tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý. Nhà văn đã có cách lựa chọn ngôi kể, cảnh kể và ngôn ngữ lời thoại phù hợp với nhân vật. Nghệ thuật viết truyện già dặn của Nguyễn Quang Sáng góp phần không chỉ làm cho câu chuyện đảm bảo tính khách quan, chân thực, tin cậy mà còn hoàn toàn chủ động điều khiển nhịp kể và dẫn dắt nội dung câu chuyện theo dòng cảm xúc của mình. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước. Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rằng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống... mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!

Trên đây là đoạn văn cảm nhận về tình cha con trong truyện ngắn " Chiếc lược Ngà"