Hệ thuộc luật quốc tịch {Lex Patriae) là hệ thống pháp luật của nước mà đương sự mang quốc tịch. Đây là một hệ thuộc luật cơ bản được áp dụng trong nhiều quan hệ dân sự, đặc biệt là các quan hệ liên quan đến nhân thân như xác định năng lực pháp luật, năng lực hành vi của cá nhân, quan hệ liên quan đến tài sản là động sản... Hệ thuộc luật quốc tịch được áp dụng phổ biển tại các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law.

Tại Việt Nam hệ thuộc luật quốc tịch cũng được áp dụng để điều chỉnh nhiều quan hệ, tuy nhiên thực tiễn do có sự quy định của pháp luật các nước khác nhau về vấn đề quốc tịch của cá nhân nên có thể xảy ra tình trạng có người có nhiều quốc tịch và có những người không có quốc tịch nào. Những người này vẫn tham gia vào người không có quôc tịch nên các quan hệ dân sự, và khi pháp luật điều chỉnh quan hệ mà họ tham gia được xác định là pháp luật của nước mà đương sự có quốc tịch thì pháp luật áp dụng đổi với các chủ thể có nhiều quốc tịch hoặc không có quốc tịch này cũng cần phải được quy định cụ thể.

Điều 672 Bộ luật dân sự 2015 chia làm 2 trường hợp: Người không quốc tịch và người có nhiều quốc tịch.

1. Trường hợp 1

Theo khoản 1 Điều 672 Bộ luật dân sự 2015:

Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất.

Đáng ra pháp luật của nước đương sự có quốc tịch sẽ được áp dụng điều chỉnh quan hệ, nhưng vì họ là người không quốc tịch nên cần phải thay đổi pháp luật áp dụng và đó là pháp luật của nước người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Sở dĩ hệ thuộc luật nơi cư trú (Lex Domicilii) được sử dụng thay thế cho hệ thuộc luật quốc tịch vì cùng với hệ thuộc luật quốc tịch (Lex Patriae), hệ thuộc luật nơi cư trú là hai dạng cụ thể của hệ thuộc luật nhân thân (Lex Personalis), một loại hệ thuộc cơ bản của tư pháp quốc tế, thường được sử dụng để điều chỉnh vấn đề liên quan đến nhân thân của các chủ thể. Truyền thống pháp luật của các nước thuộc hệ thống Civil Law hay áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch, trong khi đó các nước theo hệ thống Common Law lại hay áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú. Việt Nam là quốc gia theo hệ thống luật Civil Law nên Việt Nam cũng thường sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch hơn là hệ thuộc luật nơi cư trú. Tuy nhiên trong trường hợp mà đương sự là người không quốc tịch thì sự hoán đổi từ hệ thuộc luật quốc tịch sang hệ thuộc luật nơi cư trú là hoàn toàn phù hợp.

Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất.

2. Trường hợp 2

Theo khoản 2 Điều 672 Bộ luật dân sự 2015:

Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất.

Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam.

Như vậy, khi pháp luật của nước mà đương sự có quốc tịch được áp dụng thì pháp luật áp dụng đối với người có nhiều quốc tịch là pháp luật của nước người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Một người có nhiều quốc tịch nhưng cư trú tại một trong những nước người đó có quốc tịch thì nước đó được xác định là gắn bó hơn trong số những nước có quốc tịch còn lại, nên lựa chọn như phương án mà Điều 672 Bộ luật dân sự đưa ra là phù hợp. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất. Pháp luật nước nào được coi là gắn bó nhất sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp, hoàn cảnh, từng loại quan hệ mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc quyết định.

Riêng trường hợp đương sự là cá nhân có nhiều quốc tịch và một trong số các quốc tịch của người đó là quốc tịch Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam. Trường hợp này cá nhân đó vì có quốc tịch Việt Nam nên đương nhiên vẫn là người Việt Nam.

3. Năng lực pháp luật của cá nhân nước ngoài

Theo Điều 673 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 673. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch.

2. Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

Điều 16 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: "Năng lực pháp luật dân sự của cá nhăn là khả năng của cả nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”. Pháp luật các quốc gia khác nhau có thể không hoàn toàn giống nhau trong quy định về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân. Vì vậy, trong quan hệ về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân cũng xảy ra xung đột pháp luật và khoản 1 Điều 673 Bộ luật dân sự quy định nguyên tắc chọn luật áp dụng đó là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch. Một người là công dân nước nào thì có năng lực pháp luật theo pháp luật nước đó.

Khoản 2 quy định về trường hợp cụ thể đó là năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoài tại Việt Nam, theo đó người nước ngoài sẽ có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Như vậy nếu công dân Việt Nam ở Việt Nam có khả năng có quyền và nghĩa vụ dân sự gì thì người nước ngoài ở Việt Nam cũng sẽ có khả năng được hưởng quyền và nghĩa vụ dân sự như vậy. Nếu theo pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân người đó có thể có khả năng được hưởng những quyền và nghĩa vụ khác với những quyền và nghĩa vụ có thể được hưởng ở Việt Nam thì trường hợp này người nước ngoài sẽ phải tuân theo pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước nơi họ cư trú. Ví dụ theo pháp luật nước họ là công dân, họ có khả năng có quyền sở hữu đối với loại tài sản X, nhưng tại Việt Nam công dân Việt Nam không có khả năng có thể trở thành chủ sở hữu của loại tài sản X này. Vậy trong trường hợp này do có sự khác nhau trong quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân về năng lực pháp luật dân sự nên người nước ngoài tại Việt Nam cũng không có khả năng có được quyền sở hữu đối với loại tài sản X nêu trên.

Như vậy, khi cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết một vụ việc dân sự có yểu tố nước ngoài và cần xem xét đến năng lực pháp luật dân sự của các chủ thể tham gia thì căn cứ pháp lý chính là quy định tại điều luật này nếu không có điều ước quốc tế liên quan điều chỉnh.

4. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân nước ngoài

Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2015 thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

Mỗi quốc gia lại có các điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau... nên việc quy định về năng lực hành vi của pháp luật các nước cũng có thể không giống nhau. Vì vậy, khi một quan hệ tư pháp quốc tế nảy sinh mà có sự tham gia của các bên chủ thể có yếu tố nước ngoài thì chắc chắn sẽ xảy ra xung đột pháp luật về năng lực hành vi dân sự của chủ thể quan hệ. Đề giải quyết vấn đề này, và chỉ ra trong số các hệ thống pháp luật có thể áp dụng để điều chỉnh quan hệ về năng lực hành vi dân sự này khoản 1 Điều 674 Bộ luật dân sự 2015 quy định "năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này". Như vậy, một người có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự như thế nào do pháp luật của nước họ là công dân quy định.

Nếu người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam. Lúc này vì nơi xác lập giao dịch, thực hiện giao dịch dân sự là Việt Nam thì việc xem xét năng lực hành vi của người nước ngoài không căn cứ vào luật của nước họ là công dân nữa mà phải căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam.

Việc xác định cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam. Với quy định này, Việt Nam áp dụng nguyên tắc Luật của nước nơi thực hiện hành vi (Lex loci actus) là phù hợp bởi nó là hệ thuộc luật khách quan nhất và công bằng nhất trong trường hợp này.

5. Xác định cá nhân nước ngoài mất tích hoặc chết

Việc sống, chết của một con người là vô cùng quan trọng, nó quan trọng đối với không chỉ bản thân người đó mà còn với những người liên quan. Do nhiều lý do khác nhau như thiên tai, tai nạn, chiến tranh... mà nhiều khi sự biến mất của một con người không thực sự rõ ràng, có thể họ đã chết, nhưng có thể họ chưa chết mà đang ở đâu đó song những người còn sống chưa biết, những trường hợp đó thường được coi là mất tích. Với những tình huống như vậy để có cơ sở giải quyết các quan hệ có liên quan đến những người đó và những người còn sống cần phải có một tuyên bố chính thức từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định rõ ràng về việc mất tích hay đã chết của cá nhân đó.

Khoản 1 Điều 675 Bộ luật dân sự 2015 quy định "việc xác định một cá nhân mất tích hoặc chết tuân theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch vào thời điểm trước khỉ có tin tức cuối cùng về người đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này". Quy phạm ở điều luật này chỉ ra rằng hệ thống pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch chính là cơ sở để xác định về sự kiện chết hoặc mất tích của họ. Một lần nữa hệ thuộc luật quốc tịch lại thể hiện rõ sự gắn bó đối với các quan hệ liên quan đến nhân thân một con người, hơn hết nó là sự gần gũi, gắn bó của một con người với một đất nước.

Nếu một cá nhân nước ngoài mất tích hoặc chết tại Việt Nam thì việc xác định cá nhân đó mất tích hoặc chết phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Ví dụ một người nước ngoài tới Việt Nam du lịch, không may trong lúc tắm biển đã bị sóng cuốn, nếu có yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tòa án Việt Nam xác định người đó là chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật Việt Nam mà không theo quy định của pháp luật nước người đó là công dân theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 676 BLDS năm 2015.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & Biên tập)

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.