Đó chính là Bốn Nền Tảng của Chánh Niệm. Và thế nào là bốn?

Ở đây, vị đệ tử sống thực hành quán thân trong thân, quán cảm giác trong cảm giác, quán tâm trong tâm, quán pháp trong các pháp; với nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, bỏ đi mọi tham ái và ưu tư dành cho đời.

 

1. Quán chiếu về thân 

Và này, thế nào là vị đệ tử sống thực hành quán thân trong thân?

 

1.1 Quán hơi thở ra - Hơi thở vào (Quán niệm hơi thở)

Ở đây, vị đệ tử đi đến một khu rừng, hoặc đến một gốc cây, hay đến một nơi thanh vắng, vị ấy ngồi xuống, với chân khoanh, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Với chánh niệm, vị ấy thở vào; với chánh niệm, vị ấy thở ra. Khi thở vào dài, vị ấy biết: "Ta thở vào dài"; Khi thở ra dài, vị ấy biết: "Ta thở ra dài"; Khi thở vào ngắn, vị ấy biết: "Ta thở vào ngắn"; Khi thở ra ngắn, vị ấy biết: "Ta thở ra ngắn"; "Cảm nhận toàn bộ hơi thở, ta sẽ thở vào"—vị ấy tu tập; "Cảm nhận toàn bộ hơi thở, ta sẽ thở ra"—vị ấy tu tập; "An lặng hơi thở, ta sẽ thở vào"—vị ấy tu tập; "An lặng hơi thở, ta sẽ thở ra"—vị ấy tu tập.

Và như thế vị ấy sống thực hành quán hơi thở ở trong thân, dù là với mình hay với người hay với cả hai, vị ấy quán sự bắt đầu của hơi thở, quán sự kết thúc của hơi thở, hoặc quán sự bắt đầu và kết thúc của hơi thở. Hoặc vị ấy duy trì niệm: "Có hơi thở đây", chỉ với mục đích hướng đến chánh trí, chánh niệm.

"Có hơi thở đây”, nhưng không có một chúng sinh, một cá nhân, một đàn bà, một đàn ông, một bản ngã hay là bất kỳ cái gì thuộc về bản ngã, hay không có một người hoặc bất cứ thứ gì thuộc về một người". (Chú giải)

Và vị ấy sống không phụ thuộc, không dính mắc vào bất cứ thứ gì trên đời. Như vậy gọi là vị đệ tử sống thực hành quán thân trong thân.

Chánh niệm về hơi thở là một trong những phương pháp thực hành thiền định quan trọng nhất. Nó có thể được dùng cho sự phát triển của Định (bình lặng), tức là cho sự chứng đạt bốn Tầng Thiền (xem trang 74), cho sự phát triển của Tuệ, hoặc  cho sự kết hợp của cả hai pháp tu tập. Ở đây, khi ta đang nói về Tứ Niệm Xứ, mục đích chủ yếu của nó là để phát triển sự tĩnh lặng và tập trung như là bước chuẩn bị cho việc tu tập tuệ quán, và có thể được mô tả như ở dưới đây.

Sau khi đã đạt được một mức độ nhất định của sự bình lặng và tập trung, nhờ bởi việc thực hành đều đặn chánh niệm về hơi thở, vị hành giả tiếp tục đi đến phân tích nguồn gốc của hơi thở. Vị ấy thấy rằng cả hơi thở vào, hơi thở ra đều phụ thuộc vào cơ thể mà được tạo nên bởi bốn yếu tố vật chất và vô số các hiện tượng vật lý liên quan, chẳng hạn như năm giác quan, v.v... Do phụ thuộc vào năm tiếp xúc giác quan mà có sự phát sinh của ý thức, và cùng với nó là ba uẩn còn lại, cảm giác, ký ức, và suy nghĩ. Và bởi vậy, vị hành giả thấy rõ ràng: "Không có một thực thể cái tôi hay bản ngã nào trong cái được gọi là "Ta" này cả, mà đó chỉ là những tiến  trình tâm lý và  vật lý  phụ thuộc vào vô số các điều kiện khác nhau".

Do đó vị ấy quán chiếu "ba đặc tướng của sự tồn tại" vào những hiện tượng này, để hiểu tường tận bản chất của chúng là vô thường, khổ, và vô ngã.

 

1.2 Bốn tư thế 

Lại nữa, vị đệ tử, khi đang đi, vị ấy biết: "Ta đang đi"; khi đang đứng, vị ấy biết: "Ta đang đứng"; Khi đang ngồi, vị ấy biết: "Ta đang ngồi; Khi đang nằm, vị ấy biết: "Ta đang nằm". Bất kể cơ thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết rõ cơ thể được sử dụng như thế ấy.

Vị đệ tử biết rằng không có một chúng sinh, hay một thực ngã nào mà đang đi, đang đứng, v.v… chẳng qua là nhờ cách diễn đạt ngôn ngữ mà một người nói: "Tôi đứng", "Tôi đi", v.v…

 

1.3 Chánh niệm tỉnh giác 

Lại nữa, vị đệ tử, khi đi tới đi lui, vị ấy hoàn toàn tỉnh giác; khi nhìn trước nhìn sau, vị ấy hoàn toàn tỉnh giác; khi co tay duỗi tay, vị ấy hoàn toàn tỉnh giác; khi mặc y áo và mang theo y bát, vị ấy hoàn toàn tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm, vị ấy hoàn toàn tỉnh giác; khi đại tiện, tiểu tiện, vị ấy hoàn toàn tỉnh giác; Khi đi, đứng, ngồi, nằm, vị ấy hoàn toàn tỉnh giác.

Trong mọi hoạt động mà mình làm, vị đệ tử luôn tỉnh giác: 1. về ý định của mình, 2. về lợi ích của mình, 3. về nghĩa vụ của mình, 4. về thực tại.

 

1.4 Quán sự bất tịnh (Quán sự ô uế của cơ thể)

Lại nữa, vị đệ tử quán chiếu thân này, dưới từ gót chân trở lên, trên từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi da và chứa đầy bởi rất nhiều những thứ bất tịnh và ô uế: "Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ, nước miếng, nhầy xoang mũi, dịch khớp xương, nước tiểu."

Giống như một cái bao chứa đầy các loại hạt như hạt gạo, hạt thóc, hạt đậu xanh, hạt đậu tương, hạt vừng, hạt gạo lức. Một người với mắt sáng, đổ các loại hạt ấy ra và quan sát: "Đây là hạt gạo, hạt thóc, hạt đậu xanh, hạt đậu tương, hạt vừng, hạt gạo lức”. Cũng như vậy, là cách vị đệ tử quán chiếu cái thân này.

 

1.5 Phân tích bốn yếu tố (Tứ đại)

Lại nữa, vị đệ tử quán thân này, dù nó đứng yên hay chuyển động, đối với các yếu tố: "Trong thân này có yếu tố rắn, yếu tố lỏng, yếu tố khí, và yếu tố nhiệt". Giống như một người mổ thịt có tay nghề hoặc người thợ học việc của người ấy, sau khi đã cắt tiết con bò và cắt xẻ thịt chia thành nhiều phần, rồi đem đến ngồi bán ở ngã tư đường. Cũng như vậy, là cách vị đệ tử quán thân này đối với các yếu tố.

Trong Thanh Tịnh Đạo Luận XI, sự so sánh này được giải  thích như sau:

Cũng như một người mổ thịt nuôi một con bò, người ấy đem nó tới lò thịt, trói nó lại và làm thịt nó, rồi nhìn vào con bò đã bị giết. Và trong toàn bộ khoảng thời gian đó, người ấy vẫn còn ý niệm về "con bò". Nhưng ngay khi người ấy đã cắt thịt con bò ra, chia nó thành nhiều phần rồi đem đi bán, thì ý niệm về "con bò" trong đầu người ấy đã biến mất, và ý niệm về "miếng thịt" xuất hiện. Người ấy không nghĩ rằng mình đang bán "bò" hay khách đang mua "bò", mà chỉ nghĩ là miếng thịt đang được mua và bán. Cũng tương tự, ở một người ít học phàm phu, dù là xuât gia hay tại gia, các ý niệm về "chúng sinh", "người", hay "cá nhân" sẽ không dừng lại cho đến khi người ấy đã phân tích ở trong tâm trí những phần cơ thể của mình, dù đi hay đứng, và quán chiếu đối với các yếu tố cấu thành nên chúng. Sau khi đã thực hành như vậy, những ý niệm về một "cá nhân", v.v… sẽ biến mất, và tâm người ấy sẽ được an trú (thiết lập) vững vàng trên bốn yếu tố.

 

1.6 Thiền quán tử thi 

Lại nữa, cũng như khi vị đệ tử nhìn thấy một thi thể quăng bỏ ngoài nghĩa địa, một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phình lên, xanh đen lại, nát thối ra. Và vị ấy quán cơ thể của chính mình: "Cơ thể của ta cũng có cùng bản chất như vậy, sớm muộn cũng như vậy, và không thể thoát khỏi bị như vậy”.

Lại nữa, cũng như khi vị đệ tử nhìn thấy một thi thể quăng bỏ ngoài nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu, kền kền ăn; hay bị các loài chó hoang, linh cẩu ăn, hay bị các loài côn trùng, sâu bọ ăn. Và vị ấy quán cơ thể của chính mình: "Cơ thể của ta cũng có cùng bản chất như vậy, sớm muộn cũng như vậy, và không thể thoát khỏi bị như vậy".

Lại nữa, cũng như khi vị đệ tử nhìn thấy một thi thể quăng bỏ ngoài nghĩa địa, với các xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại.

Với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại.

Với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại.

Chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở kia là xương chân, ở đây là xương ống, ở kia là xương đùi, ở đây là xương hông, ở kia là xương sống, ở đây là xương đầu,... Và vị ấy quán cơ thể của chính mình: "Cơ thể của ta cũng có cùng bản chất như vậy, sớm muộn cũng như vậy, và không thể thoát khỏi bị như vậy".

Lại nữa, cũng như khi vị đệ tử nhìn thấy một thi thể quăng bỏ ngoài nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc

Chỉ còn là một đống xương trải qua năm tháng thời gian.

Chỉ còn là những mẩu xương nát vụn trở về cát bụi. Và vị ấy quán cơ thể của chính mình: "Cơ thể của ta cũng có cùng bản chất như vậy, sớm muộn cũng như vậy, và không thể thoát khỏi bị như vậy".

Và như thế vị ấy sống thực hành quán cơ thể ở trong thân, dù là với mình hay với người hay với cả hai, vị ấy quán sự sinh ra của cơ thể, quán sự chết đi của cơ thể, hoặc quán sự sinh ra và chết đi của cơ thể. Hoặc vị ấy duy trì niệm: "Có cơ thể đây", chỉ với mục đích hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không phụ thuộc, không dính mắc vào bất cứ thứ gì trên đời. Như vậy gọi là vị đệ tử sống thực hành quán thân trong thân.

 

1.7 Bảo đảm mười phước lành  

Khi sự quán chiếu về thân được thực hành, được trau dồi và phát triển, trở thành một phương tiện, trở thành một nền tảng, được thiết lập chắc chắn, được củng cố và được khéo hoàn thiện; thì mười phước lành này có thể được mong đợi:

  1. Vị ấy chinh phục được lòng ham muốn và bất mãn. Vị ấy không để lòng bất mãn chinh phục được mình. Bất cứ khi nào lòng bất mãn khởi lên, vị ấy chinh phục được nó.
  2. Vị ấy chinh phục được nỗi khiếp đảm sợ hãi.Vị ấy không để nỗi khiếp đảm sợ hãi chinh phục được mình. Bất cứ khi nào nỗi khiếp đảm sợ hãi khởi lên, vị ấy chinh phục được nó.
  3. Vị ấy chịu đựng được nóng và lạnh, đói và khát, gió và nắng, xúc chạm của ruồi, muỗi, và các loài rắn rết. Vị ấy kiên nhẫn chịu đựng những lời nói khó chịu và khó nghe, kể cả những đau đớn thân thể, cho dù chúng có thể đau nhói, thấu buốt, dữ dội, khó chịu, khó ưa, và nguy hiểm đến tính mạng.
  4. Vị ấy có thể dễ dàng, tùy theo ý muốn, không tốn sức lực, không khó khăn gì, chứng được bốn tầng Thiền - là những trạng thái tâm cao thượng và mang đến an lạc trong hiện tại.

 

1.8 Sáu thần thông 

  1. Vị ấy chứng được nhiều loại thần thông khác nhau.
  2. Với Thiên Nhĩ thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, ở xa hay ở gần.
  3. Với tâm của mình, vị ấy có thể biết được tâm của các chúng sinh và của người khác.
  4. Vị ấy có thể nhớ được các kiếp sống quá khứ.
  5. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sinh. Vị ấy biết rõ chúng sinh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
  6. Với sự diệt tận của ô nhiễm, sau khi tự mình giác ngộ với chân trí tuệ, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại sự giải thoát thuần khiết của tâm, sự giải thoát nhờ trí tuệ.

Sáu phước lành cuối (5-10) là những năng lực thần thông. Trong số chúng, năm cái đầu thuộc về thế tục, và có thể chứng đạt được ngay cả với một "phàm nhân". Trong khi năng lực cuối cùng là xuất thế gian, và chỉ dành riêng cho bậc A-la-hán. Một người chỉ sau khi đã chứng đạt toàn bộ bốn tầng thiền thì mới có thể thành tựu trong việc đạt tới năm loại thần thông  thế tục. Có bốn loại "thần lực” (như ý túc) hay là bốn cơ sở để đắc thần thông, cụ thể là: chí lực, tấn lực, định lực, và tuệ lực.

 

2. Quán chiếu cảm giác 

Và này, thế nào là vị đệ tử sống thực hành quán cảm giác trong cảm giác?

Ở đây, khi cảm nhận các cảm giác, vị đệ tử đều biết: "Ta cảm nhận cảm giác dễ chịu", hay: "Ta cảm nhận cảm giác khó chịu", hay: "Ta cảm nhận cảm giác không-dễ-chịu-cũng- không-khó-chịu", hay: "Ta cảm nhận cảm giác dễ chịu thuộc về trần tục" hay: "Ta cảm nhận cảm giác dễ chịu không thuộc trần tục", hay: "Ta cảm nhận cảm giác khó chịu thuộc về trần tục", hay: "Ta cảm nhận cảm giác khó chịu không thuộc trần tục"....

Và như thế vị ấy sống thực hành quán cảm giác trong cảm giác, dù là với mình hay với người hay với cả hai, vị ấy quán sự xuất hiện của cảm giác, quán sự biến mất của cảm giác, hoặc quán sự xuất hiện và biến mất của cảm giác.  Hoặc vị ấy duy trì niệm: "Có cảm giác đây", chỉ với mục đích hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không phụ thuộc, không dính mắc vào bất cứ thứ gì trên đời. Như vậy gọi là vị đệ tử sống thực hành quán cảm giác trong cảm giác.

Vị đệ tử hiểu rằng lối biểu đạt "Tôi cảm thấy" là không có giá trị ngoại trừ trong các quy tắc ứng xử thông thường; vị  ấy hiểu, theo nghĩa tuyệt đối, rằng chỉ có duy nhất các cảm giác, mà không có một cái tôi hay một người nào đó mà cảm nhận các cảm giác.

 

3. Quán chiếu về tâm 

Và này, thế nào là vị đệ tử sống thực hành quán tâm trong tâm?

Ở đây, vị đệ tử biết tâm tham dục là tham dục, biết tâm không tham dục là không tham dục; biết tâm sân hận là sân hận, biết tâm không sân hận là không sân hận; biết tâm u mê là u mê, biết tâm không u mê là không u mê; biết tâm bó hẹp là bó hẹp, biết tâm tản mác là tản mác; biết tâm phát triển là phát triển, biết tâm không phát triển là không phát triển; biết tâm hữu hạn là hữu hạn, biết tâm vô thượng là vô thượng; biết tâm định tĩnh là định tĩnh, biết tâm bất định là bất định; biết tâm giải thoát là giải thoát, biết tâm không giải thoát là không giải thoát.

"Tâm" ở đây được dùng để mô tả một tập hợp của những khoảnh khắc ý thức. “Tâm” trong trường hợp này đồng nghĩa với "ý thức", và không nên được hiểu là "ý nghĩ". "Ý nghĩ" và "Suy nghĩ" thì tương ứng hơn cả là với "các hoạt động ngôn ngữ của tâm", mà vốn thuộc về uẩn tạo tác, bao gồm: Tầm (tạo tác ý nghĩ) và Tứ (tư duy suy nghĩ).

Và như thế vị ấy sống thực hành quán tâm trong tâm, dù là với mình hay với người hay với cả hai, vị ấy quán sự sinh ra của tâm, quán sự mất đi của tâm, hoặc quán sự sinh ra và mất đi của tâm. Hoặc vị ấy duy trì niệm: "Có tâm đây", chỉ với mục đích hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không phụ thuộc, không dính mắc vào bất cứ thứ gì trên đời. Như vậy gọi là vị đệ tử sống thực hành quán tâm trong tâm.

 

4. Quán chiếu các pháp 

Và này, thế nào là vị đệ tử sống thực hành quán pháp trong các pháp?

Ở đây, vị đệ tử sống thực hành quán pháp trong các pháp đối với "Năm Chướng Ngại".

 

4.1 Năm chướng ngại (Triền cái)

Ở đây vị đệ tử, khi trong mình có tham dục, vị ấy biết: "Trong ta có tham dục"; khi trong mình có sân hận, vị ấy biết: "Trong ta có sân hận"; khi trong mình có hôn trầm thuỵ miên (lờ đờ uể oải), vị ấy biết: "Trong ta có hôn trầm thuỵ miên; khi trong mình có trạo cử hối quá (tán loạn lo âu), vị ấy biết: "Trong ta có trạo cử hối quá"; khi trong mình có nghi ngờ, vị ấy biết: "Trong ta có nghi ngờ", khi trong mình không có các chướng ngại này, vị ấy biết: "Trong ta không có các chướng ngại này". Vị ấy biết cách chúng sinh khởi, và khi chúng đã sinh khởi, vị ấy biết cách để vượt qua chúng. Hoặc nếu chúng chưa sinh khởi, vị ấy biết cách để chúng không sinh khởi trong tương lai.

Chẳng hạn với "Tham dục", nó được phát sinh do việc suy nghĩ không đúng đắn về những điều khả ái và hấp dẫn. Và có thể được ngăn chặn bởi sáu cách sau đây: Hướng sự chú ý vào một  ý niệm gợi lên sự ghê tởm; quán sự bất tịnh của cơ thể; phòng hộ sáu giác quan; tiết độ trong ăn uống; kết bạn với người lành, người trí; có sự hướng dẫn đúng. Tham dục và Sân hận được vĩnh viễn trừ bỏ với sự chứng đạt quả Bất Lai, còn "Phóng tâm" (Trạo cử) thì ở quả A-la-hán, và "Nghi ngờ" thì ở quả Dự Lưu.

 

4.2 Năm uẩn 

Lại nữa, vị đệ tử sống thực hành quán pháp trong các pháp đối với "Năm Uẩn". Ở đây vị đệ tử biết được cơ thể là gì, cách nó sinh ra, cách nó mất đi. Vị ấy biết được cảm giác là gì, cách nó sinh ra, cách nó mất đi. Vị ấy biết được ký ức là gì, cách nó sinh ra, cách nó mất đi. Vị ấy biết được suy nghĩ là gì, cách nó sinh ra, cách nó mất đi. Vị ấy biết được ý thức là gì, cách nó sinh ra, cách nó mất đi.

 

4.3 Sáu cơ sở giác quan 

Lại nữa, vị đệ tử sống thực hành quán pháp trong các pháp đối với "sáu cơ sở giác quan bên trong - bên ngoài". Ở đây, vị đệ tử biết được mắt và hình ảnh, biết được tai và âm thanh, biết được mũi và mùi hương, biết được lưỡi và mùi vị, biết được thân và xúc chạm, biết được tâm và ý niệm. Và vị ấy cũng biết được những ách trói buộc sinh ra bởi chúng. Vị ấy biết tại sao các ách trói buộc này sinh khởi, và khi chúng đã sinh khởi, vị ấy biết cách để vượt qua chúng. Hoặc nếu chúng chưa sinh khởi, vị ấy biết cách để chúng không sinh khởi trong tương lai.

 

4.4 Bảy chi phần giác ngộ (Thất Giác Chi)

Lại nữa, vị đệ tử sống thực hành quán pháp trong các pháp đối với "bảy chi phần giác ngộ". Ở đây vị đệ tử biết khi nào ở bản thân có các chi phần giác ngộ: "Chánh Niệm", "Phân Biệt các Pháp", "Tinh Tấn", "Niềm Vui", "Khinh An", "Định Tĩnh", "Quân Bình". Và vị ấy biết khi nào thì bản thân không có các yếu tố đó. Vị ấy biết cách chúng sinh khởi, và khi chúng đã sinh khởi, vị ấy biết cách tu tập để chúng được hoàn toàn phát triển.

 

4.5 Bốn sự thật cao quý (Tứ diệu đế)

Lại nữa, vị đệ tử sống thực hành quán pháp trong các pháp đối với "Bốn Sự Thật Cao Quý". Vị ấy hiểu đúng sự thực về Khổ, hiểu đúng sự thực về Nguyên Nhân của Khổ, hiểu đúng sự thực về Sự Chấm Dứt của Khổ, hiểu đúng sự thực về Con Đường đưa đến Sự Chấm Dứt của Khổ.

Và như thế vị ấy sống thực hành quán pháp trong các pháp, dù là với mình hay với người hay với cả hai, vị ấy quán sự phát sinh của các pháp, quán sự chấm dứt của các pháp, hoặc quán sự phát sinh và chấm dứt của các pháp. Hoặc vị ấy duy trì niệm: "Có pháp đây", chỉ với mục đích hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không phụ thuộc, không dính mắc vào bất cứ thứ gì trên đời. Như vậy gọi là vị đệ tử sống thực hành quán pháp trong các pháp.

Và đây là con đường trực tiếp cho sự thanh tịnh của chúng sinh, cho sự vượt thoát khỏi sầu muộn và bi thán, cho sự chấm dứt khỏi đớn đau và ưu phiền, cho sự thành  tựu  chánh đạo, cho sự chứng ngộ Niết Bàn. Đó chính là bởi Bốn Nền Tảng Chánh Niệm này.

Những phép quán của Tứ Niệm Xứ đều liên hệ đến toàn bộ năm uẩn, cụ thể là: 1. Quán chiếu về thân, liên hệ với uẩn cơ thể; 2. Quán chiếu cảm giác, liên hệ với uẩn cảm giác; 3. Quán chiếu về tâm, liên hệ với uẩn ý thức; 4. Quán chiếu các pháp, liên hệ với uẩn ký ức và suy nghĩ.

 

4.6 Niết bàn nhờ quán niệm hơi thở 

Chánh niệm về hơi thở, này các Đệ tử, nếu được tu tập và phát triển, mang lại quả lớn, lợi ích lớn, và sẽ làm thành tựu “Bốn Nền Tảng của Chánh Niệm”. Bốn nền tảng chánh niệm, nếu được tu tập và phát triển, mang lại quả lớn, lợi ích lớn, và sẽ làm thành tựu "Bảy Chi Phần Giác Ngộ". Bảy chi phần giác ngộ, nếu được tu tập và phát triển, mang lại quả lớn, lợi ích lớn, và sẽ làm thành tựu "Trí Tuệ và Giải Thoát".

Và này, thế nào là Chánh niệm về hơi thở, khi được tu tập và phát triển, mang lại quả lớn, lợi ích lớn, và sẽ làm thành tựu bốn nền tảng của chánh niệm?

  1. Ở đây, bất cứ khi nào vị đệ tử với chánh niệm (1) thở vào hoặc thở ra một hơi dài, hay (2) thở vào hoặc thở ra một hơi ngắn, hay (3) tu tập thở vào hoặc thở ra trong khi đang cảm nhận toàn bộ hơi thở, hay (4) tu tập thở vào hoặc thở ra trong khi đang làm an lặng các tạo tác cơ thể (tức hơi thở) - thì lúc ấy, vị đệ tử sống thực hành quán 'thân ở trong thân', với nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, bỏ đi mọi tham ái và ưu tư dành cho đời. Bởi vì hơi thở ra-hơi thở vào, ta gọi đó là một hiện tượng về thân.
  2. Bất cứ khi nào vị đệ tử tu tập thở vào hoặc thở ra trong lúc đang cảm nhận (1) niềm vui (hỷ), hay (2) dễ chịu (lạc), hay (3) các tạo tác tâm lý, hay (4) trong khi đang làm an lặng các tạo tác tâm lý—thì lúc ấy, vị đệ tử sống thực hành quán 'cảm giác trong cảm giác', với nhiệt tâm, tỉnh giác, và  chánh niệm, bỏ đi mọi tham ái và ưu tư dành cho đời. Bởi vì sự nhận thức toàn diện hơi thở ra-hơi thở vào, ta gọi đó là một hiện tượng về cảm giác.
  3. Bất cứ khi nào vị đệ tử tu tập thở vào hoặc thở ra (1) trong lúc đang cảm nhận tâm, (2) trong lúc đang làm hân hoan tâm, (3) trong lúc đang làm định tĩnh tâm, (4) trong lúc đang giải thoát trói buộc cho tâm—thì lúc ấy, vị đệ tử sống thực hành quán 'tâm trong tâm', với nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, bỏ đi mọi tham ái và ưu tư dành cho đời. Bởi nếu không có chánh niệm và tỉnh giác, thời ta nói rằng không có một sự quán niệm về hơi thở.
  4. Bất cứ khi nào vị đệ tử tu tập thở vào hoặc thở ra trong lúc đang quán chiếu về (1) sự vô thường, hay (2) sự ly tham, hay (3) sự lặng tắt, hay (4) sự buông xả—thì lúc ấy, vị đệ tử sống thực hành quán 'pháp trong các pháp', với nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, bỏ đi mọi tham ái và ưu tư dành cho đời. Bởi sau khi đã thấy với trí tuệ, hiểu được sự từ bỏ của tham ái và ưu tư, vị ấy khéo nhìn mọi sự với một niềm quân bình tuyệt đối. Và như vậy, khi chánh niệm về hơi thở được tu tập và phát triển, sẽ làm thành tựu Bốn Nền Tảng của Chánh Niệm.

Và này, thế nào là bốn nền tảng chánh niệm, nếu được tu tập và phát triển, mang lại quả lớn, lợi ích lớn, và sẽ làm thành tựu "Bảy Chi Phần Giác Ngộ"?

  1. Ở đây, vị đệ tử sống thực hành quán thân trong thân, quán cảm giác trong cảm giác, quán tâm trong tâm, quán pháp trong các pháp; với nhiệt tâm, tỉnh giác, và  chánh niệm, bỏ đi mọi tham ái và ưu tư dành cho đời—và lúc ấy, chánh niệm của vị đệ tử trở nên an trú và sáng suốt. Khi đó, chi phần giác ngộ "Chánh Niệm" được vị ấy thiết lập và phát triển, và nhờ sự tu tập này mà chi phần giác ngộ ấy của vị đệ tử được đi đến thành tựu.
  2. Và ở đây, khi vị đệ tử đang an trú chánh niệm, vị ấy với trí tuệ khéo quán sát, phân tích, và suy xét về các "pháp"— thì lúc ấy, chi phần giác ngộ "Phân Biệt các Pháp" được vị ấy thiết lập và phát triển, và nhờ sự tu tập này mà chi phần  giác ngộ ấy của vị đệ tử được đi đến thành tựu.
  3. Và ở đây, khi vị đệ tử đang với trí tuệ khéo quán sát, phân tích, và suy xét về các pháp, sự tinh tấn của vị ấy trở nên mạnh mẽ và không thể lay chuyển—thì lúc ấy, chi phần giác ngộ "Tinh Tấn" được vị ấy thiết lập và phát triển, và nhờ sự tu tập này mà chi phần giác ngộ ấy của vị đệ tử được đi đến thành tựu.
  4. Và ở đây, khi sự tinh tấn của vị đệ tử trở nên mạnh mẽ, một niềm vui phi vật chất được khởi lên ở vị ấy—thì lúc ấy, chi phần giác ngộ "Niềm Vui" được vị ấy thiết lập và phát triển, và nhờ sự tu tập này mà chi phần giác ngộ ấy của vị đệ tử được đi đến thành tựu.
  5. Và ở đây, khi tâm vị đệ tử tràn đầy niềm vui, thì thân thể và tâm trí của vị ấy trở nên khinh an—và lúc này, chi phần giác ngộ "Khinh An" được vị ấy thiết lập và phát triển, và nhờ sự tu tập này mà chi phần giác ngộ ấy của vị đệ tử được đi đến thành tựu.
  6. Và ở đây, khi thân thể khinh an và cảm nhận hạnh phúc, tâm của vị đệ tử trở nên định tĩnh—và lúc này, chi phần giác ngộ "Định Tĩnh" được vị ấy thiết lập và phát triển, và nhờ sự tu tập này mà chi phần giác ngộ ấy của vị đệ tử được đi đến thành tựu.
  7. Và ở đây, với tâm định tĩnh, vị ấy nhìn mọi sự với một niềm quân bình tuyệt đối—và lúc này, chi phần giác ngộ "Quân Bình" được vị ấy thiết lập và phát triển, và nhờ sự tu tập này mà chi phần giác ngộ ấy của vị đệ tử được đi đến thành tựu.

Và như vậy, khi bốn nền tảng chánh niệm được tu tập và phát triển, sẽ làm thành tựu "Bảy Chi Phần Giác Ngộ".

Và này, thế nào là bảy chi phần giác ngộ, nếu được tu tập và phát triển, mang lại quả lớn, lợi ích lớn, và sẽ làm thành tựu "Trí Tuệ và Giải Thoát"?

Ở đây, vị đệ tử tu tập và phát triển các chi phần của sự giác ngộ: Chánh Niệm, Phân Biệt các Pháp, Tinh Tấn, Niềm Vui, Khinh An, Định Tĩnh, và Quân Bình, dựa trên sự buông xả, ly dục, lặng tắt, và từ bỏ.

Và như vậy, khi bảy chi phần giác ngộ được tu tập và phát triển, sẽ làm thành tựu "Trí Tuệ và Giải Thoát".

Ví như có một người quản tượng điều phục con voi rừng, người ấy đóng một cọc trụ lớn trên mặt đất, buộc xích vào cổ voi và trói nó lại tại đó, nhằm để thuần con voi rừng khỏi tập tính hoang dại và nếp sống hoang dã của nó, và huấn luyện cho voi để nó quen thuộc với cuộc sống thôn làng và dạy nó cư xử đúng phép tắc với loài người. Cũng như vậy, bậc thánh đệ tử buộc tâm mình vào bốn nền tảng chánh niệm, nhằm điều phục bản thân khỏi những ước muốn và thói quen của cuộc đời phàm tục trước kia, với mục đích để vị ấy có thể giác ngộ chân lý, chứng đạt Niết Bàn.

Nguồn:  Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)

 

5. Câu hỏi thường gặp về chánh niệm

5.1 Chánh niệm được thể hiện ra sao?

Đáp: Thể hiện của chánh niệm là không quên đối tượng.

Hỏi: Nhân gần của chánh niệm là gì?

Đáp : Nhân gần của chánh niệm là tưởng.

 

5.2 Chánh niệm có đặc tính gì?

Đáp: Đặc tính của chánh niệm là ghi nhớ đối tượng.

Hỏi    : Chánh niệm có nhiệm vụ gì?

Đáp: Nhiệm vụ của chánh niệm là canh giữ đối tượng.

 

5.3 Chánh niệm là gì?

Đáp : Chánh là chân chánh

- Niệm là ghi nhớ

Chánh niệm là Ghi nhớ những điều chân chánh