1. Chào hàng là gì?

- Khái niệm chào hàng theo quy định của pháp luật quốc tế:

Khái niệm chào hàng được quy định tại Điều 14 Công ước Viên 1980 quy định cụ thể như sau:

Một đề nghị về việc giao kết hợp đồng được gửi đến một hay nhiều người xác định sẽ cấu thành một chào hàng nếu nó đủ rõ ràng và thể hiện ý định chịu sự ràng buộc của bên chào hàng trong trường hợp được chấp nhận. Một đề nghị là đủ rõ ràng khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng và giá cả một cách cụ thể hoặc ngầm định hoặc quy định thể thức xác định những nội dung này.

Như vậy, chào hàng sẽ được xác định khi nó gửi đến một hoặc nhiều người xác định, thể hiện ý chí rõ ràng mong muốn ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Sự thể hiện ý chí rõ ràng ở đây sẽ được xác định bằng cách xem trong lời chào hàng đó có nêu rõ hàng hóa và số lượng, giá cả và các điều khoản cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hóa. Khi người được chào hàng chấp nhận, người đề nghị chào hàng sẽ bị ràng buộc bởi lời chào hàng đó, trừ khi lời chào hàng hết hiệu lực hoặc bên chào hàng hủy bỏ trước khi người được chào hàng chấp nhận lời chào hàng.

- Khái niệm chào hàng theo quy định của pháp luật Việt Nam

Chào hàng lần đầu tiên được sử dụng trong Luật Thương mại năm 1997 và tiếp tục được quy định trong Luật Thương mại 2005. Theo đó, việc chào hàng phải có các nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa như: tên hàng hóa, số lượng, quy cách kiểm tra chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian và địa điểm giao nhận hàng, phương thức giao hàng. Chào hàng gồm chào bán hàng và chào mua hàng. Chào hàng có thể được thực hiện bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể khác.

 

2. Giá trị pháp lý của chào hàng

Giá trị pháp lý của chào hàng được quy định tại Điều 15 Công ước Viên 1980 (CISG 1980)

Về mặt pháp lý, người chào hàng sẽ bị ràng buộc nghĩa vụ của mình bởi những điều đã cam kết trong lời chào hàng gửi đến người khác. Tuy nhiên, chào hàng sẽ không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với người chào hàng trong các trường hợp sau:

- Chào hàng không tới được tay người được chào hàng. Vì một lí do nào đó như sai địa chỉ hoặc sự chậm trễ của việc vận chuyển thông tin mà lời chào hàng không đến nơi người được chào hàng thì lời chào hàng đó sẽ không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với người chào hàng.

- Người chào hàng nhận được thông báo từ chối của người được chào hàng theo quy định tại Điều 17 CISG 1980: “Chào hàng, dù là loại không hủy ngang, sẽ mất hiệu lực khi người chào hàng nhận được thông báo về việc từ chối chào hàng”.

- Thông báo rút lại chào hàng đến tay người được chào hàng trước hoặc cùng lúc với lời mời chào hàng quy định tại khoản 2 Điều 15 CISG: “Chào hàng, dù là loại không hủy ngang vẫn có thể bị rút lại nếu như thông báo về việc hủy chào hàng đến người được được chào hàng trước hoặc cùng lúc với chào hàng”. Quy định này áp dụng cho loại chào hàng không thể bị hủy bỏ.

Theo quy định của Công ước Viên thì chỉ trong trường hợp thông báo rút lại chào hàng tới tay người được chào hàng trước hoặc cùng lúc với lời chào hàng thì người chào hàng mới không bị ràng buộc bởi các điều khoản đã cam kết trong chào hàng. Do đó, nếu người chào hàng muốn thoát khỏi nghĩa vụ của mình ghi trong lời chào hàng thì người chào hàng phải gửi thông báo rút lại lời chào hàng bằng các phương tiện thông tin nhanh hơn so với phương tiện thông tin mà họ đã sử dụng để gửi lời chào hàng trước đó, sao cho thông báo rút lại có thể đến tay người được chào hàng trước hoặc cùng lúc với chào hàng. 

- Thông báo việc hủy chào hàng tới tay người được chào hàng trước khi người này gửi chấp nhận chào hàng quy định tại khoản 1 Điều 16: ” Cho tới khi hợp đồng được giao kết, người chào hàng vẫn có thể hủy ngang chào hàng, nếu người được chào hàng nhận được thông báo về việc hủy ngang trước khi người này gửi thông báo chấp nhận chào hàng”. Đây là quy định áp dụng cho loại chào hàng có thể bị hủy bỏ. Điều này chỉ xảy ra trong trường hợp nếu thông báo hủy chào hàng của người chào hàng được gửi đến tay người được chào hàng trước khi người này gửi chấp nhận chào hàng cho người chào hàng.

Về mặt pháp lý, trong trường hợp mặc dù bên được chào hàng đã nhận được chào hàng nhưng chưa bày tỏ ý kiến của mình thì hợp đồng coi như chưa được hình thành. Như vậy, đối với chào hàng có thể bị huỷ bỏ, nếu trước khi gửi được chấp nhận chào hàng để xác lập hợp đồng, bên được chào hàng nhận được thông báo hủy chào hàng của bên chào hàng thì chào hàng này sẽ không còn giá trị ràng buộc nghĩa vụ của bên chào hàng.

 

3. Phân loại chào hàng

3.1. Phân loại chào hàng theo mức độ chủ động của người chào hàng

Chào hàng thụ động

Chào hàng thụ độngchào hàng của người bán nếu trước đó nhận được những yêu cầu (thư hỏi hàng) của người mua. (Chào hàng thụ động còn có tên gọi là trả lời thư hỏi hàng).

Chào hàng chủ động

Chào hàng chủ động là việc người bán chủ động chào hàng khi chưa nhận được "thư hỏi hàng" của người mua.

 

3.2. Phân loại chào hàng theo căn cứ ràng buộc trách nhiệm của người chào hàng

Chào hàng cố định (Firm Offer) 

Chào hàng cố định là việc chào bán một lô hàng nhất định, trong đó nêu rõ thời gian mà người chào hàng bị ràng buộc trách nhiệm với lời đề nghị của mình. Thời gian này còn gọi là thời gian hiệu lực của chào hàng cố định.

Trong thời gian hiệu lực, nếu người mua chấp nhận hoàn toàn lời chào hàng đó thì hợp đồng coi như được kí kết.

Chào hàng tự do (Free Offer)

Chào hàng tự do là loại chào hàng không ràng buộc trách nhiệm người phát ra nó, cùng một lúc với một lô hàng người ta có thể chào hàng tự do cho nhiều khách hàng. Trong chào hàng tự do cần ghi rõ "chào hàng không cam kết - Offer without Engagement".

Chào hàng tự do trở thành hợp đồng khi có sự xác nhận lại của người xuất khẩu. Người mua không thể trách cứ người bán nếu sau khi chấp nhận chào hàng, người bán không kí hợp đồng với mình.

 

4. Chấp nhận chào hàng trong thương mại quốc tế

– Khái niệm

Khái niệm về chấp nhận chào hàng được quy định tại Khoản 1 Điều 18 Công ước Viên, theo đó: Chấp nhận chào hàng là sự thể hiện ý chí đồng ý của người được chào hàng với những đề nghị của người chào hàng.

Về mặt pháp lý, một sự chấp nhận chỉ có giá trị làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi người chào hàng nhận biết được sự chấp nhận của người được chào hàng. Theo quy định của Công ước Viên năm 1980 thì sự chấp nhận chào hàng của người được chào hàng chỉ có giá trị pháp lí khi nó được thể hiện bằng lời tuyên bố hoặc bằng hành vi, biểu thị sự đồng ý của mình đối với nội dung của chào hàng. Như vậy, theo quy định của Công ước thì sự im lặng hoặc không hành động của người được chào hàng sẽ không mặc nhiên được hiểu là chấp nhận.

– Hiệu lực của chấp nhận

Hiệu lực chấp nhận được quy định tại Khoản 2 Điều 18 Công ước Viên 1980:

” Chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được chấp nhận. Chấp thuận chào hàng không phát sinh hiệu lực nếu sự chấp nhận ấy không được gửi tới người chào hàng trong thời hạn mà người này đã quy định trong chào hàng, hoặc nếu thời hạn đó không được quy định như vậy, thì trong một thời hạn hợp lý, xét theo các tình tiết của sự giao dịch, trong đó có xét đến tốc độ của các phương tiện liên lạc do người chào hàng sử dụng. Một chào hàng bằng miệng phải được chấp nhận ngay trừ phi các tình tiết bắt buộc ngược lại.”

Về mặt pháp lí, chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị pháp lí khi nó được gửi tới tay người chào hàng. Tuy nhiên, một chấp nhận chỉ phát sinh hiệu lực pháp lí khi tới tay người chào hàng nếu nó thỏa mãn các yêu cầu sau: Theo quy định của Công ước, trong một số trường hợp + Chấp nhận phải vô điều kiện. mặc dù người được chào hàng không chấp nhận toàn bộ chào hàng mà đưa ra một số điều kiện mới thì việc chấp nhận này cũng có giá trị như chấp nhận vô điều kiện, nếu những điều kiện mới do người được chào hàng đưa ra không làm thay đổi nội dung chủ yếu của chào hàng (khoản 2 Điều 19).

+ Chấp nhận phải được gửi cho người chào hàng trong thời hạn đã ghi trong chào hàng hoặc trong thời gian hợp lí quy định tại Khoản 2 Điều 18 Công ước Viên 1980 .

Tính hợp lí về mặt thời gian để cho chấp nhận có giá trị pháp lí được xác định là: Nếu chào hàng bằng miệng thì phải được chấp nhận ngay (trừ các trường hợp đặc biệt);

Nếu chào hàng bằng các phương tiện thông tin khác thì thời gian chấp nhận được coi là hợp lí là thời gian có tính đến các tình tiết của giao dịch như tốc độ của các phương tiện thông tin mà người chào hàng đã sử dụng.

– Hủy bỏ chấp nhận

Hủy bỏ chấp nhận quy định tại Điều 22 Công ước Viên 1980

Chấp nhận chào hàng có thể bị hủy bỏ nếu thông báo không chấp nhận chào hàng tới người chào hàng trước hoặc cùng một lúc với chấp nhận. Quy định này được áp dụng trong trường hợp mà trước đó người được chào hàng đã chấp nhận chào hàng và bày tỏ quan điểm đó thông qua một thông báo chính thức đối với người chào hàng nhưng ngay sau đó họ đã thay đổi ý kiến của mình là không chấp nhận chào hàng và gửi thông báo hủy cho người chào hàng.

 

5. Hoàn giá chào

Hoàn giá chào được quy định tại Điều 19 Công ước Viên 1980

Hoàn giá chào là việc người được chào hàng trả lời người chào hàng với mục đích chấp nhận chào hàng nhưng đưa ra điều kiện sửa đổi, bổ sung nội dung của chào hàng.

Về mặt pháp lí thì hoàn giá chào được coi như chào hàng mới của người được chào hàng đối với người chào hàng ban đầu. Tuy nhiên, theo quy định của Công ước Viên thì không phải tất cả những trả lời chào hàng có xu hướng chấp nhận chào hàng nhưng có sửa đổi, bổ sung nội dung chào hàng đều bị coi là hoàn giá chào. Chào hàng chỉ bị coi là hoàn giá chào trong các trường hợp các đề nghị sửa đổi bổ sung đã làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng.

Trên đây là toàn bộ tổng hợp và phân tích của công ty luật Minh Khuê. Trường hợp trong nội dung bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung bài viết khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng./.