1. Nghề luật sư là nghề như thế nào?
Nghề luật sư tại Việt Nam đầu tiên là một lĩnh vực chuyên sâu về pháp luật, trong đó các chuyên gia pháp lý sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để độc lập thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp. Mục tiêu chính của nghề này là phục vụ công lý, đồng thời đóng góp vào việc bảo vệ và xây dựng hệ thống pháp chế của Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Theo nghiên cứu của nhiều chuyên gia, nghề luật sư không giống như các nghề thông thường khác vì nó đòi hỏi không chỉ kiến thức chuyên môn sâu rộng mà còn yêu cầu tuân thủ nghiêm túc theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Điều này tạo ra đặc điểm độc đáo của nghề luật sư, có ảnh hưởng sâu sắc đến kỹ năng thực hành, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của các chuyên gia luật sư.
Nếu xem xét về tính chất, nghề luật sư có thể được phân loại thành ba đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, đó là tính chất trợ giúp: Đây là khía cạnh của nghề luật sư tập trung vào việc giúp đỡ và bênh vực những người ở trong tình thế yếu đuối mà không đặt lợi ích cá nhân lên hàng đầu. Những người nhận được sự trợ giúp thường là những người bị đối xử bất công, bị áp đặt trái pháp luật trong xã hội, hoặc là những người nghèo đói, người già cô đơn, và thanh thiếu niên thiếu hỗ trợ gia đình. Tính chất này là biểu hiện của việc nghề luật sư không chỉ là một trách nhiệm mà còn là một đơn vị đo lường đạo đức và lòng nhân ái của người hành nghề.
Thứ hai, là tính chất hướng dẫn: Thường xuyên, luật sư thực hiện vai trò hướng dẫn để giúp khách hàng hiểu rõ về tinh thần và nội dung của pháp luật. Điều này giúp họ giải quyết khúc mắc một cách phù hợp với quy định pháp luật và đạo lý, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ.
Thứ ba, là tính chất phản biện: Đây là khả năng biện luận nhằm phản đối lý lẽ và quan điểm của người khác mà luật sư cho rằng không tuân thủ pháp luật và đạo đức. Luật sư sử dụng pháp luật và đạo đức xã hội như là tiêu chí để đánh giá mọi khía cạnh của vấn đề, nhằm xác định rõ ràng điểm đúng và sai, từ đó đề xuất những biện pháp hợp lý nhằm bảo vệ lợi ích công bằng và đúng đắn.
Từ những tính chất và đặc thù này của nghề luật sư, chúng ta nhận thấy rằng để thực hiện nghề này một cách hiệu quả không hề dễ dàng. Trong các quốc gia phát triển, nghề luật sư được coi trọng cao trong xã hội. Những người có thể hành nghề luật sư phải trải qua nhiều chương trình đào tạo và đồng thời phải sở hữu nhiều phẩm chất quan trọng như sự thông minh, sự trong sáng, tinh thần trung thực và lòng dũng cảm. Luật sư cần có khả năng áp dụng pháp luật, tuân thủ đạo đức xã hội, và đặt lẽ sống công bằng và chân lý khách quan làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp, chỉ khi đó họ mới được tin tưởng và tôn trọng.
2. Quy định về chế độ báo cáo hằng năm của tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư
Quy định về chế độ báo cáo hàng năm và nội dung báo cáo đối với tổ chức và cá nhân hành nghề luật sư được mô tả chi tiết trong Thông tư 05/2021/TT-BTP như sau:
2.1. Đối với tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư
- Mỗi năm, tổ chức và cá nhân hành nghề luật sư có trách nhiệm việc tổ chức và thực hiện lập báo cáo về các khía cạnh của tổ chức và hoạt động của họ, và gửi báo cáo này đến Đoàn Luật sư và Sở Tư pháp tại địa chỉ trụ sở của tổ chức hoặc địa chỉ đăng ký hành nghề luật sư của cá nhân. Đối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài đặt trụ sở tại Việt Nam, báo cáo cũng cần được gửi đến Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp tại địa chỉ trụ sở.
- Báo cáo hàng năm của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, luật sư hành nghề cá nhân, và tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam phải được gửi trước ngày 05 của tháng cuối cùng của kỳ báo cáo. Tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam cũng cần thực hiện cập nhật số liệu về tổ chức và hoạt động của họ mỗi 6 tháng theo biểu mẫu được ban hành kèm theo Thông tư 03/2019/TT-BTP. Ngoài ra, họ cũng phải báo cáo đột xuất về tổ chức và hoạt động khi có yêu cầu từ Bộ Tư pháp hoặc Sở Tư pháp.
Ngoài các tổ chức và cá nhân hành nghề luật sư, một số đối tượng khác cũng chịu trách nhiệm thực hiện báo cáo hàng năm.
2.2. Đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư
- Báo cáo hàng năm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư tuân theo các quy định được liệt kê trong Điều 22 và Điều 25 của Nghị định 123/2013/NĐ-CP như sau:
* Đoàn Luật sư:
- Mỗi năm, Đoàn Luật sư chịu trách nhiệm gửi báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động của mình đến Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, và đồng thời gửi Sở Tư pháp theo các quy định của Bộ Tư pháp. Thời hạn và kỳ báo cáo thực hiện theo quy định của Bộ Tư pháp.
- Ngoài báo cáo hàng năm, Đoàn Luật sư cũng thực hiện báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hoặc Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
- Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư cần gửi quy định, quyết định, và nghị quyết của Đoàn Luật sư đến Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, và Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ký ban hành.
* Liên đoàn Luật sư Việt Nam:
- Hàng năm, Liên đoàn Luật sư Việt Nam có trách nhiệm gửi báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động của luật sư, cũng như của Đoàn Luật sư trong toàn quốc, đến Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Thời hạn và kỳ báo cáo thực hiện theo quy định của Bộ Tư pháp.
- Ngoài báo cáo hàng năm, Liên đoàn Luật sư Việt Nam thực hiện báo cáo kết quả Đại hội nhiệm kỳ và báo cáo khác theo yêu cầu của Bộ Tư pháp.
- Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần gửi quy định, quyết định, và nghị quyết của mình đến Bộ Tư pháp trong thời hạn 07 ngày làm việc, tính từ ngày ký ban hành.
Thời gian cuối cùng để gửi báo cáo hàng năm của Đoàn Luật sư là vào ngày 10 của tháng cuối cùng của kỳ báo cáo, trong khi thời hạn tương ứng cho báo cáo của Liên đoàn Luật sư Việt Nam là vào ngày 15 của tháng cuối cùng của kỳ báo cáo.
2.3. Đối với Sở Tư pháp
- Hàng năm, Sở Tư pháp có trách nhiệm thực hiện báo cáo về tổ chức và hoạt động của luật sư tại địa phương và gửi Bộ Tư pháp cùng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Nội dung chi tiết của báo cáo mà Sở Tư pháp gửi đến Bộ Tư pháp được biểu diễn trong Báo cáo kết quả công tác tư pháp hàng năm, theo quy định tại Thông tư 12/2019/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, chủ trương về chế độ báo cáo định kỳ thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp.
Trong trường hợp cần thiết, việc báo cáo đột xuất về tổ chức và hoạt động của luật sư tại địa phương được thực hiện theo yêu cầu của Bộ Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Hình thức và thời gian chốt số liệu để thực hiện báo cáo được quy định theo hướng dẫn của Thông tư 12/2019/TT-BTP.
3. Nội dung báo cáo của tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư
(1) Báo cáo của tổ chức, cá nhân hành nghề luật sư và tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam đề cập đến các nội dung quan trọng như sau:
- Tóm tắt tình hình tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, nhấn mạnh các đặc điểm chính và cơ sở về cơ cấu tổ chức.
- Thông tin về những kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của tổ chức hành nghề luật sư, đặc biệt là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đã đề ra.
- Đề xuất và kiến nghị với mục đích cải thiện và phát triển hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư trong thời gian tới.
(2) Báo cáo của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư bao gồm các phần chính như sau:
- Tóm tắt tình hình tổ chức và hoạt động luật sư, đặc biệt là về cơ cấu tổ chức, chương trình hoạt động, và các sự kiện quan trọng.
- Đánh giá kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong việc phát triển đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, cũng như các hoạt động quan trọng khác như hoạt động của Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, và vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
- Đề xuất và kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tương lai.
(3) Báo cáo của Sở Tư pháp tập trung vào các thông tin quan trọng sau:
- Tóm tắt tình hình tổ chức và hoạt động luật sư tại địa phương, tập trung vào cơ cấu tổ chức và các sự kiện chính trong cộng đồng luật sư địa phương.
- Đánh giá kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân liên quan đến việc phát triển đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, và nhiệm vụ quản lý nhà nước về luật sư tại địa phương.
- Đánh giá vai trò tự quản của Đoàn Luật sư, xây dựng tổ chức Đảng, và các khía cạnh quan trọng khác trong cộng đồng luật sư địa phương.
- Đề xuất và kiến nghị với mục tiêu cải thiện hoạt động và nâng cao chất lượng công tác quản lý luật sư tại địa phương.
Bài viết liên quan: Có các hình thức tổ chức hành nghề luật sư nào? Quyền và nghĩa vụ là gì?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!