- 1. Chế độ lưỡng viện là gì ?
- 2. Mô hình và phương thức hoạt động của các quốc gia theo chế độ lưỡng viện
- 3. Hoa Kỳ - mô hình đặc trưng cho chế độ lưỡng viện
- 3.1. Cơ cấu tổ chức của Nghị viện Hoa Kỳ
- 3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Nghị viện
- 3.3. Hai cơ quan Thượng viện và Hạ viện thì cơ quan nào quyền lực hơn?
1. Chế độ lưỡng viện là gì ?
Chế độ lưỡng viện là chế độ tổ chức và hoạt động của các cơ quan lập pháp, theo đó cơ quan này gồm có hai viện hợp thành.
Ở những nước mà nghị viện (congreess) được tổ chức theo chế độ lưỡng viện thì một viện gồm những đại biểu được bầu ra theo tỉ lệ dân cư (viện dân biểu hay còn gọi là hạ nghị viện). Còn một viện gồm các đại biểu được bầu ra đại diện cho các đơn vị hành chính lãnh thổ hoặc được hình thành theo một phương thức riêng (thượng nghị viện). Các đạo luật chỉ được nghị viện (quốc hội) thông qua khi được cả hai viện biểu quyết tán thành.
Cơ quan lập pháp ở một số nước theo chế độ lưỡng viện được tổ chức thành thượng nghị viện và hạ nghị viện (viện nguyên lão và viện dân biểu). Hai viện này có quyền hạn khác nhau nhằm hạn chế lẫn nhau.
Chế độ lưỡng viện được thành lập chủ yếu ở các nhà nước mà việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền. Trừ một số nước ở Bắc Âu, còn hầu hết các nước tư sản đều có tổ chức chế độ lưỡng viện, điển hình là Anh, Mĩ, Pháp.
2. Mô hình và phương thức hoạt động của các quốc gia theo chế độ lưỡng viện
Thông thường, số lượng thượng nghị sỹ ít hơn Hạ nghị sỹ, cộng với việc thượng nghị sỹ có nhiệm kỳ lâu hơn, giúp cho quan hệ giữa các thượng nghị sỹ trở nên chặt chẽ hơn. Họ không chịu nhiều sức ép từ cử tri, cho nên có điều kiện dành nhiều thời gian, công sức hơn cho công việc chuyên sâu ở thượng viện. Các thượng nghị sỹ cũng không chịu nhiều sức ép từ các đảng khi thảo luận, biểu quyết, vì Chính phủ đa số không hiện diện tại Thượng viện. Hơn nữa, do ít thu hút sự chú ý của báo chí hơn, thượng viện có điều kiện tĩnh tâm hơn để làm việc.
Mô hình thượng viện có thể tăng các hình thức đại diện so với việc cố gắng đa dạng hóa các hình thức đại diện trong khuôn khổ của một viện duy nhất; tránh được sự chuyên chế của đa số; tăng cường sự giám sát và kiểm soát đối với hành pháp. Mô hình hai viện cũng có thể kiểm soát tốt hơn đối với các nhóm lợi ích mạnh, vì khi quyền lực được chia sẻ giữa hai viện, các nhà vận động hành lang của các nhóm lợi ích mạnh sẽ phải giành được sự ủng hộ của nhiều người lãnh đạo hơn.
Mặt khác, mô hình hai viện cũng có những nhược điểm của mình. Quy trình lập pháp ở các nước theo mô hình Nghị viện hai viện có nhiều điểm phức tạp hơn mô hình Nghị viện một viện. Sự tham gia, kiểm tra của thượng viện làm cho quy trình (lập pháp) được tiến hành dài hơn, với những thủ tục rườm rà hơn. Đối với những nước có mô hình Nghị viện theo kiểu mô hình Nghị viện Anh, Thượng viện thường là viện của tầng lớp quý tộc, và thường chỉ đóng vai trò xét lại các quyết định của viện thứ dân. Một trong những ưu thế và cũng là nhược điểm của mô hình hai viện là giữa hai viện thường có những quan điểm khác nhau về các vấn đề lập pháp, thể hiện tính đại diện cho các nhóm cử tri khác nhau của mỗi viện.
3. Hoa Kỳ - mô hình đặc trưng cho chế độ lưỡng viện
3.1. Cơ cấu tổ chức của Nghị viện Hoa Kỳ
3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Nghị viện
- Hạ viện
Hạ viện gồm tổng cộng 435 nghị sĩ và được bầu lại 2 năm một lần. Số nghị sĩ đại diện mỗi bang tương xứng với dân số của bang đó. Hiện California có số đại biểu đông nhất trong Hạ viện với 53 người.
Cũng giống Thượng viện, Hạ viện có quyền đề xuất các dự luật mới hay các sửa đổi luật. Thành viên ở hai viện này đều được bổ nhiệm vào các ủy ban phụ trách các lĩnh vực khác nhau như ngân sách, tư pháp.
Hạ viện có quyền lực đặc biệt: quyền đưa ra các đạo luật về thu nhập, phế truất các quan chức chính phủ, và bầu tổng thống nếu như đại cử tri đoàn không quyết định được ai thắng cử.
- Thượng viện
Thượng viện thường được coi là có thanh thế hơn một phần là bởi số thượng nghị sĩ ít hơn nhiều so với số hạ nghị sĩ ở Hạ viện. Ngoài ra Hiến pháp Mỹ cũng trao cho cơ quan này những thẩm quyền đặc biệt. Thượng viện có tổng cộng 100 thượng nghị sĩ, mỗi bang có 2 thượng nghị sĩ đại diện với nhiệm kỳ 6 năm.
Hiến pháp Mỹ trao cho Thượng viện quyền “kiểm tra và cân bằng quyền lực” của các thành phần khác trong chính phủ liên bang với việc phê duyệt các đề cử của tổng thống, trong đó có các đề cử đối với chức vụ như thẩm phán Tòa án tối cao, và quyền bầu Phó Tổng thống trong trường hợp không có ai nhận đa số phiếu đại cử tri. Các thượng nghị sĩ cũng được trao quyền thông qua hay phủ quyết các hiệp ước của Mỹ với nước ngoài.
Thượng viện cũng có vai trò đặc biệt trong các cuộc điều tra cấp liên bang.
Thông qua các quy trình luận tội bắt đầu ở Hạ viện, vấn đề sẽ được gửi tới Thượng viện. Thượng viện là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tiến hành xét xử các vụ luận tội. Để luận tội và phế truất tổng thống, cần có sự ủng hộ của ít nhất 2/3 thượng nghị sĩ.
3.3. Hai cơ quan Thượng viện và Hạ viện thì cơ quan nào quyền lực hơn?
Mặc dù Thượng viện và Hạ viện có vai trò giống nhau là giám sát hoạt động của chính phủ, nhưng những người lập quốc ở Mỹ cũng trao cho họ những thẩm quyền riêng, Ross Baker, một giáo sư về chính trị Mỹ tại Đại học Rutgers cho biết.
“Họ có những vai trò riêng biệt. Ở Thượng viện, đó là về việc bổ nhiệm và về các hiệp ước, còn ở Hạ viện là về thuế và chi tiêu ngân sách”, ông Baker nói. Do vậy, việc phân định bên nào quyền lực hơn không hề dễ dàng.
Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất - kế hoạch luận tội tổng thống - thì dường như không thay đổi.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)