Ngân hàng:

Tiền lãi biên ròng (NIM) hoặc chênh lệch phần trăm giữa lợi suất trên tài sản sinh lợi của ngân hàng (hầu hết là các khoản cho vay) và lãi trả cho người ký gửi.

Một phần tài sản cầm cố như bảo đảm, ví dụ, hàng tồn kho hoặc khoản phải thu là cơ sở để ngân hàng cho vay. Mức chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị khoản vay còn được gọi là chênh lệch tài chính. Nếu giá trị tài sản thế chấp giảm xuống, sẽ yêu cầu tiền bảo chứng bổ sung.

Phần bù bên cho vay cầm cố thêm vào lãi suất chỉ số, khi xác định lãi suất khoản vay trong cầm cố với lãi suất có thể điều chỉnh. Phần bù này thường từ hai đến ba phần trăm.

Hợp đồng kỳ hạn: tiền hoặc chứng khoán đưa ra như tiền bảo chứng bảo đảm rằng hợp đồng kỳ hạn sẽ được thực hiện. Cũng được biết đến như tiền gửi bảo đảm, vì tiền bảo chứng ban đầu và tiền bảo chứng duy trì được yêu cầu khi vị thế kỳ hạn được mở.

Chứng khoán: tiền ký gửi với nhà môi giới thực hiện như thanh toán từng phần khi mua chứng khoán. Quy định T của ủy ban Dự trữ Liên bang thiết lập một mức bảo chứng duy trì, hiện tại là 50%, khi mua hoặc bán khống chứng khoán. Tiền bảo chứng có thể được đưa ra bằng tiền mặt hoặc chứng khoán đủ điều kiện. Nhà môi giới - thương nhân có thể bị áp đặt tiền bảo chứng cao hơn trong kinh doanh chứng khoán giao dịch OTC.