1. Định nghĩa chi phí cận biên
Chi phí cận biên (marginal cost) là mức tăng chi phí (AC) khi sản lượng tăng thêm một đơn vị (AK). Như vậy, chi phí cận biên là số tương đối hay số tỷ lệ (AC/AL), chứ không phải số tuyệt đối. Nếu biểu diễn Trên đồ thị như trong hình 9b, thì ban đầu MC có hướng đi xuống, đạt giá trị cực tiểu, sau đó có hướng đi lên. Lý do ở đây là vì ban đầu cả chi phí cố định và biến đổi tính trên mỗi đơn vị sản lượng đều giảm, làm cho AIC giảm. Nhưng sau đó quy luật lợi suất giảm dần bắt đầu phát huy tác dụng và chi phí biến đổi của mỗi đơn vị sản lượng bắt đầu tăng. Đồ thị tiếp tục đi xuống khi mức tăng của chi phí biến đổi nhỏ hơn mức giảm của chi phí cố định (do số đơn vị sản lượng tiếp tục tăng). AIC đạt giá trị tối thiểu khi mức tăng của chi phí biển đổi đúng bằng mức giảm của chi phí cố định. Sau điểm này, chi phí biến đổi tăng nhanh hơn mức giảm của chi phí cố định và đồ thị bắt đầu đi lên.
MC cùng với doanh thu cận biên (MR) quyết định mức sản lượng cho phép doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa.
Trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, một công ty tính toán sản lượng đầu ra được sản xuất dựa trên chi phí cận biên và giá bán. Bất cứ khi nào một công ty thực hiện phân tích tài chính đề định giá sản phẩm và kiểm tra tính khả thi trong sản xuất, phân tích chi phí cận biên là một phần quan trọng của phân tích tổng thể, dựa vào đó ban giám đốc có thể đánh giá của mỗi hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp cho người tiêu dùng. Cùng xét ví dụ dưới đây để thấy rõ vai trò của chi phí cận biên.
Ví dụ: Một nhà sản xuất đĩa CD đang sản xuất 1000 đĩa CD với tổng chi phí là 10.000USD. Nếu tổng chi phí để sản xuất 1001 đĩa CD là 10.010USD thì chi phí biên của việc sản xuất địa CD thứ 1001 là 10USD.
Từ đó, ta có thể thấy chi phí biên để sản xuất ra chiếc đĩa CD thứ 1001 là 10USD. Nên chi phí biên trong trường hợp này được xác định là 10USD.
Trong một vài trường hợp chi phí biên của một đơn vị sản lượng tăng thêm có thể khá cao. Ta có thể xét đến trường hợp khi một công ty sản xuất điện. Khi bình thường, công ty có thể tạo ra đủ điện chỉ bằng cách sử dụng các nhà máy hoặc phân xưởng có chi phí thấp nhất và hiệu quả nhất của nó. Nhưng vào những ngày nắng nóng, nhu cầu điện tăng cao, công ty buộc phải chạy những máy phát điện cụ không hiệu quả và có chi phí cao. Lượng điện sản xuất thêm này có được với một chi phí biên cao đối với công ty này. Ngược lại, trong những trường hợp khác, chi phí biên của việc sản xuất thêm một đơn vị đầu ra có thể rất thấp. Ví dụ, với hãng hàng không đang còn ghế trống, chi phí tăng thêm cho một hành khách nữa chỉ đơn giản bằng chi phí của một cái bánh ngọt, hộp cơ hay một cốc nước mà không cần tăng thêm vốn (máy bay) hay lao động (phi công và tiếp viên).
Trên thực tế, nếu chi phí biên bị giảm thì cũng sẽ khiến chi phí trung bình bị giảm theo, tuy nhiên trong một số trường hợp khi chi phí biên tăng thì chi phí trung bình vẫn có thể bị giảm vì chi phí bổ sung vào không đáng kể so với khoản đầu tư ban đầu.
>> Xem thêm: Mối quan hệ chi phí cận biên/chi phí bình quân là gì?
2. Công thức tính chi phí cận biên
Chi phí biên (MC - Marginal Cost) là sự thay đổi trong tổng chi phí hay tổng chi phí biến đổi khi thay đổi một đơn vị sản lượng.
Chi phí cận biên = thay đổi của tổng chi phí/thay đổi của tổng sản lượng.
Trong đó:
- Tổng chi phí sản xuất có thể tăng hoặc giảm, dựa trên thực tế là có nhu cầu tăng hoặc giảm khối lượng sản xuất như nhau hay không. Nếu việc sản xuất thêm các đơn vị khác đảm bảo chi phí mua nguyên liệu thô tăng lên và đòi hỏi phải thuê thêm lực lượng lao động, thì chi phí sản xuất chung dự kiến sẽ thay đổi. Để tính toán sự thay đổi của tổng chi phí sản xuất, chỉ cần khấu trừ chi phí sản xuất ban đầu phát sinh trong lô đầu tiên từ chi phí sản xuất phát sinh trong lô theo tiếp theo khi sản lượng đã được tăng lên.
- Tổng sản lượng đầu ra tăng hay giảm cuối cùng được phản ánh trong chi phí sản xuất chung và do đó điều quan trọng là phải biết sự thay đổi. Để tính toán sự thay đổi của số lượng sản xuất, số lượng đơn vị được sản xuất trong lần sản xuất ban đầu được trừ đi số lượng đơn vị được sản xuất trong lần sản xuất tiếp theo.
MC có thể tính bằng cách lấy đạo hàm bậc nhất của hàm TC hay hàm TVC
(khi TC và TVC là hàm số)
Chi phí biên biểu thị chi phí tăng thêm cần thiết để sản xuất thêm một đơn vị sản lượng (hay mức giảm trong tổng chi phí khi sản xuất ít đi một đơn vị sản lượng).
Ví dụ: Công ty ABC sản xuất 50 cuốn với với tổng chi phí là 200.000 đồng, còn tổng số chi phí để sản xuất ra 51 cuốn vở là 220.000 đồng, khi đó để sản xuất thêm được 1 cuốn vở thì công ty phải chi trả thêm số tiền là 20.000 đồng.
Từ đó, chi phí biên để sản xuất ra cuốn vở thứ 51 là 20.000 đồng. Nên chi phí biên trong trường hợp này được xác định là 20.000 đồng. Nói một cách khác, chi phí biên của đơn vị sản phẩm thứ q là:
MCq = TCq - TC(q-1)
trong đó TCq biểu thị tổng chi phí khi doanh nghiệp sản xuất q đơn vị đầu ra, còn TC(q-1) biểu thị tổng chi phí kinh doanh sản xuất (q -1) đơn vị đầu ra.
3. Mối quan hệ giữa chi phí cận biên và chi phí bình quân
Nếu Chi phí biên là mức tăng chi phí (AC) khi sản lượng tăng thêm một đơn vị (AK) thì chi phí bình quân được hiểu là chi phí tính trên mỗi đơn vị sản phẩm. Chi phí bình quân được tính bằng tổng chi phí (bao gồm toàn bộ chi phí cố định và chi phí biến đổi) chia cho số lượng sản phẩm được sản xuất. Chi phí bình quân dùng để đánh giá tác động đến chi phí đơn vị sản phẩm do sự thay đổi của mức sản lượng.
Trong khi chi phí biên giúp cho người quản trị dễ dàng so sánh được kết quả của quá trình thực hiện kế hoạch thì chi phí bình quân dùng để đánh giá tác động đến chi phí đơn vị sản phẩm do sự thay đổi của mức sản lượng.
Khi chi phí bình quân giảm vì sản lượng tăng, chi phí cận biên thấp hơn chi phí bình quân. Khi chi phí bình quân tăng, chi phí cận biên lớn hơn chi phí bình quân. Khi chi phí bình quân không tăng hoặc giảm (ở mức tối thiểu hoặc tối đa), chi phí cận biên bằng chi phí bình quân.
Các trường hợp đặc biệt thường xảy ra giữa chi phí bình quân và chi phí cận biên:
- Chi phí cận biên không đổi/chi phí cố định cao: mỗi đơn vị sản xuất bổ sung được sản xuất với chi phí bổ sung không đổi trên một đơn vị. Đường cong chi phí bình quân giảm xuống liên tục, tiếp cận chi phí cận biên. Các ngành công nghiệp có chi phí cận biên cố định, chẳng hạn như mạng truyền tải điện, chi phí cận biên để phục vụ khách hàng bổ sung luôn thấp hơn chi phí bình quân cho một đối thủ tiềm năng. Chi phí vốn cố định cao là rào cản đối với việc gia nhập thị trường.
- Hai cơ chế định giá phổ biến là định giá chi phí bình quân và định giá chi phí cận biên. Một nhà độc quyền sẽ sản xuất tại điểm mà đường cong chi phí bình quân cắt đường cầu thị trường theo phương pháp định giá chi phí bình quân, được gọi là điểm cân bằng giá chi phí bình quân. Ngược lại, có thể làm một cách tương tự với định giá chi phí cận biên.
- Quy mô hiệu quả tối thiểu/quy mô hiệu quả tối đa: chi phí cận biên hoặc chi phí bình quân có thể không tuyến tình hoặc không liên tục. Do đó, đường cong chi phí chỉ có thể được thể hiện trên quy mô sản xuất hạn chế của một công nghệ nhất định.
>> Tham khảo: Định giá theo chi phí cận biên, phương pháp (marginal cost pricing) là gì ?
4. Tại sao việc nghiên cứu chi phí biên lại quan trọng?
Xuất phát từ những mặt ưu điểm của chi phí biên, việc các nhà quản lý áp dụng phương pháp chi phi biên nhằm mục đích giúp người quản lý dễ dàng so sánh được kết quả của quá trình thực hiện kế hoạch để từ đó đưa ra được quyết định cắt giảm những hoạt động không đem lại được hiệu quả, đồng thời đối chiếu, so sánh doanh thu,... Từ đó giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định có giá trị, từ việc tổng hợp kết quả để đưa ra các kế hoạch sản xuất mới.
Việc phân tích chi phí biên còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với doanh nghiệp vì nó có thể tối ưu hóa mức sản xuất, từ đó tối đa hóa lợi nhuận. Nếu chi phí biên của sản phẩm sản xuất thêm thấp hơn doanh thu biên, công ty có điều kiện để thu được thêm lợi nhuận. Nếu tình trạng doanh thu của sản phẩm tạo ra thêm (doanh thu biên) bằng, hoặc ít hơn so với chi phí biên kéo dài, doanh nghiệp cần phải tính đến phương án cải thiện công tác quản trị chi phí hoặc doanh thu, thậm chí còn là tạm dừng sản xuất, vì chi phí sản xuất đang khiến doanh nghiệp thua lỗ.
5. Cần làm gì để có thể cắt giảm chi phí biên
Để có thể căt giảm chi phí biên, các doanh nghiệp cần phải:
- Tìm cách quản trị tốt chi phí;
- Tăng cường đầu tư công nghệ hiện đại, đào tạo nhân lực, giúp tăng năng suất lao động, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, lợi thế về quy mô của doanh nghiệp cũng sẽ tăng theo;
- Luôn đánh giá và cải tiến các chính sách quản lý phù hợp theo quy mô sản xuất. Khi có chính sách quản lý phù hợp, hiệu quả và hiệu suất làm việc của nguồn nhân lực sẽ luôn được phát huy tối đa.
Luật Minh Khuê xin gửi tới Quý khách hàng những thông tin cần thiết xoay quanh chủ đề "Chi phí cận biên (Marginal cost) là gì?". Với bài viết trên, chúng tôi hy vọng rằng Quý khách hàng đã trả lời một phần nào những thắc mắc trước đó.
Trong trường hợp bạn còn có bất kỳ câu hỏi liên quan đến vấn đề này hay các vấn đề khác như lao động, hôn nhân và gia đình, doanh nghiệp, bảo hiểm,... cần giải đáp về mặt pháp lý các bạn đừng ngần ngại nhấc máy lên và gọi tới số tổng đài 1900.6162 để được đội ngũ luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. Chúng tôi rất hân hạnh được đồng hành cúng quý khách hàng. Trân trọng!