Câu hỏi: Xin chào Luật Minh Khuê, em có một câu hỏi xin được giải đáp như sau: Em có thấy pháp luật dân sự hiện hành (Bộ luật dân sự năm 2015) có ghi người chiếm hữu hợp pháp là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật - người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình. Vậy theo em hiểu người chiếm hữu trái pháp luật là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình. Vậy cho em hỏi cách hiểu trên của em có đúng không, tại vì em không tìm thấy khái niệm "người chiếm hữu trái pháp luật" theo quy định của pháp luật dân sự. Mong Luật sư Minh Khuê có thể giải thích giúp em là như thế nào là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật (không ngay tình).
Em xinh chân thành cảm ơn ạ!
Người gửi: F.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Nội dung tư vấn:

2.1 Quy định của pháp luật về chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Pháp luật dân sự (Bộ luật dân sự năm 2015) định nghĩa chiếm hữu là việc chủ thể năm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.

Căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự thì chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu của một người đối với một tài sản mà không dựa trên những căn cứ của pháp luật (hay nói cách khác là chiếm hữu không phù hợp với quy định của pháp luật). Cụ thể là những trường hợp mà người chiếm hữu tài sản không phải là chủ sở hữu của tài sản, cũng không phải là người chiếm hữu theo các căn cứ quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015.

Ví dụ như Điều 182 và Điều 183 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 182. Chiếm hữu liên tục

1. Chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.

2. Việc chiếm hữu không liên tục không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này".

"Điều 183. Chiếm hữu công khai

1. Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.

2. Việc chiếm hữu không công khai không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này".

2.2 Phân loại chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Dựa vào ý chí của chủ thể chiếm hữu tài sản mà pháp luật dân sự phân loại chiếm hữu không có căn cứ pháp luật thành các loại: Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình, cụ thể như sau:

- Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình: Việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình là việc chiếm hữu của một người không có căn cứ pháp luật nhưng không biết hoặc không thể biết (pháp luật không buộc phải biết) việc chiếm hữu của người đó là không có căn cứ.

Ví dụ: Trường hợp mua nhầm tài sản trộm cắp (tài sản không thuộc các loại tài sản bắt buộc phải đăng ký) mà không biết,...

- Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình: Là việc chiếm hữu của một người không có căn cứ pháp luật và người đó biết là không có căn cứ pháp luật hoặc tuy không biết nhưng pháp luật bắt buộc phải biết việc chiếm hữu của họ là không có căn cứ.

Ví dụ: Người mua biết là tài sản là của người gian trộm cắp nhưng vẫn mua tài sản vì giá rẻ hơn thị trường,...

2.3 Quyền của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Pháp luật dân sự quy định người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. Điều này được quy định tại Điều 191 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

"Điều 191. Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu

Người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật".

Nếu trong trường hợp người thứ ba kiện đòi lại vật, thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình có quyền yêu cầu người đã chuyển dịch tài sản cho mình phải trả lại những gì họ đã nhận. Quyền lợi của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật được quy định tại Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

"Điều 133. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.

2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại".

Ngoài ra Bộ luật dân sự cũng quy định chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật (Điều 166). Việc chủ sở hữu đòi lại tài sản của mình được phân định rõ tài sản là động sản hay tài sản là bất động sản.

Điều 167 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền đòi lại tài sản là động sản, cụ thể như sau:

"Điều 167. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu".

Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền đòi lại tài sản là bất động sản, cụ thể như sau:

"Điều 168. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này".

Như vậy ta có thể nhận thấy cùng một sự chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng căn cứ vào mặt ý chí chủ quan của chủ thể, pháp luật dân sự hiện hành phân biệt thành hai hình thức là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình. Sự phân biệt này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực tiễn đời sống xã hội và việc áp dụng pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu và việc lựa chọn phương thức kiện để bảo vệ quyền của chủ sở hữu và các bên liên quan trong việc giải quyết các vụ án dân sự.

2.4 Phân biệt chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và quyền sở hữu tài sản.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 ta có thể dễ dàng phân biệt được những điểm khác nhau giữa quyền chiếm hữu và quyền sở hữu:

Nếu quyền chiếm hữu được hiểu đơn giản quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản của chủ sở hữu. Chiếm hữu là một trong những nội dung của quyền sở hữu. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản, nếu được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu. Thì cũng theo Bộ luật dân sự 2015 tại Điều 186 quy định về Quyền sở hữu được hiểu bao gồm các quyền như: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Theo đó chủ sở hữu được thực hiện các quyền cơ bản như sau với tài sản của mình bao gồm:

- Mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định. Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.

- Thực hiện việc chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.Chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

- Có quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật.Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luạt MInh Khuê