1. Chính sách ngụ binh ư nông là gì?

Ngụ binh ư nông là một chính sách được sử dụng ở thời phong kiến nước ta, có nghĩa là sẽ cho các binh lính thay phiên nhau về làm ruộng ở thời bình, nhưng khi có chiến tranh sẽ huy động tất cả đi chiến đấu. Việc áp dụng chính sách này giúp vừa đảm bảo được năng lực chiến đấu của binh lính, vừa có khả năng phát triển đất nước, tăng gia sản xuất. Đây là một chính sách xây dựng lực lượng quân sự thời phong kiến khá hiệu quả với việc phân bố lực lượng một cách hợp lý. 

Chính sách ngụ binh ư nông là một chính sách xây dựng quân đội gắn liền với nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Với bối cảnh của một thời kì mà nước ta vẫn gặp phải nhiều khó khăn về nguồn lương thực ổn định và dự trữ nên cần có thêm nhiều người tham gia vào hoạt động này để có thể mở rộng phạm vi và quy mô của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Chính sách này đã phản ánh tư duy nông binh bất phân, đâu có dân là có quân. Nó cũng gắn liền việc thể hiện tình yêu nước đến toàn thể nhân dân, chỉ cần là người dân Việt Nam đều có ý thức và khát khao gìn giữ độc lập của dân tộc nên luôn cố gắng để hoàn thành được cả việc đánh giặc và sản xuất. Chính sách ngụ binh ư nông thời đó cũng phù hợp với việc xây dựng quốc phòng với một quốc gia không rộng lớn, lực lượng còn mỏng, góp phần vừa duy trì sự sống, vừa cải thiện đất nước thoát khỏi đói nghèo, vừa đánh đuổi giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập.

 

2. Lịch sử ra đời của chính sách Ngụ binh ư nông

Lần đầu tiên chính sách ngụ binh ư nông được áp dụng vào thời nhà Đinh. Chính sách này được áp dụng cho tới thời Lê sơ. 

Bắt đầu ở thời nhà Lý, quân đội nước ta được xây dựng chính quy và có sự phân cấp, điều này giúp cho quân đội được xây dựng một cách quy củ và có hiệu quả hơn, điều này vẫn có giá trị và được ứng dụng chọn lọc đến ngày nay. Với việc chia cụ thể thành quân triều đình và quân địa phương để có thể phân bố lực lượng một cách đồng đều, đảm bảo ở vùng lãnh thổ nào cũng có quân và dân, giúp nâng cao khả năng giữ vững bờ cõi. Cấm quân sẽ được tuyển chọn từ những thanh niên khoẻ ở cả nước để làm nhiệm vụ bảo vệ vua và kinh thành. Việc tuyển chọn này phải đảm bảo cho chất lượng lực lượng được phân bổ đều, không chỉ dồn hết sức mạnh vào quân đội triều đình mà bỏ qua quân đội của địa phương. Bởi vậy, quân địa phương sẽ được tuyển chọn từ những thanh niên trai tráng ở các làng xã khi đến tuổi thành đinh và làm nhiệm vụ canh phòng ở các lộ, phủ. Điều này vừa đảm bảo được cho việc đi lính, vừa làm được các công việc ở gần. Chính sách ngụ binh ư nông triều nhà Lý thi hành đó là cho quân sĩ luân phiên nhau về cày ruộng và các thanh niên có đăng kí tên vào sổ nhưng vẫn ở tại gia để sản xuất. Tuy nhiên, khi có việc cần thì triều đình sẽ huy động. Điều đó giúp các sức mạnh được khai thác một cách hiệu quả bởi có các công việc nông nghiệp cũng cần nhiều tới sức mạnh và lúc đó người lính có thể đảm nhận công việc đó để mang đến chất lượng công việc tốt hơn, giúp hoạt động tăng gia sản xuất có hiệu quả cao. Bên cạnh đó, kỉ luật của quân đội cũng rất nghiêm minh và cùng với các quy định rất nghiêm ngặt. Điều này giúp cho việc thực hiện các chế độ rèn luyện sức mạnh, ý chí được đảm bảo để có thể tăng cường sức mạnh khi có chiến tranh xảy ra. 

Tới thời nhà Tần thì bên cạnh quân triều đình và quân địa phương còn có thêm quân của các vương hầu, thế nhưng số lượng này không đáng kể. Sang thời Hậu Lê thì lực lượng này bị xoá bỏ, chính sách ngụ binh ư nông được áp dụng với cả cấm quân kinh thành.

Thời nhà Mạc chuyển sang áp dụng chế độ lộc điền (hay còn gọi là binh điền). Chế độ này đảm bảo cho những người tham gia vào quân đội, thực hiện các hoạt động trong công việc của đất nước có những quyền lợi và được đảm bảo cho các nhu cầu cơ bản được thực hiện. Chính sách này có những ưu đãi cho lực lượng quân đội với cách lợi ích xác định trực tiếp như đất đai, sản phẩm quý...

Khoảng năm 1790, một dạng của chính sách ngụ binh ư nông cũng được Nguyễn Ánh thực thi ở khu vực Gia Định. Theo đó, Nguyễn Ánh cũng cho huy động binh lính vào việc sản xuất nông nghiệp. Họ cũng vừa tham gia vào chiến đấu, vừa được khuyến khích lẫn bắt buộc cấy cày, sản xuất nông nghiệp để tận dụng những mảnh đất bỏ hoang vì chiến tranh.

 

3. Cách thức tuyển binh 

Việc tuyển binh được áp dụng khác nhau ở từng giai đoạn và từng loại quân như cấm quân, lộ quân hay phủ quân... Công việc này sẽ do các quan võ ở địa phương đảm nhận, trực tiếp thực hiện dựa trên sổ hộ tịch mà các xã quan lập ra. Hằng năm, các xã quan sẽ có nhiệm vụ lập sổ hộ tịch, tiến hành kiểm kê dân đinh dưới quyền quản lý của mình. Trên cơ sở đó, xã quan sẽ phân dân thành các hạng: tôn thất; quan văn, võ; người hầu hạ; dân lưu xứ; hoàng nam;#8; long não; người tàn tật. Ở thời nhà Lý, những đinh nam từ 18 tuổi trở lên đến tuổi binh dịch được gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên được gọi là đại hoàng nam; thời nhà Trần thì gọi đinh nam từ 18 đến 20 tuổi là Tiểu hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên là Đại hoàng nam.

Trong việc tuyển binh, tính quân luật được thực hiện một cách rất nghiêm ngặt để tránh tối đa hiện tượng khai man, bao che, hối lộ để trốn đi lính. Bên cạnh đó, triều đình cũng thường xuyên tiến hành việc thanh tra ở các địa phương để có thể nắm bắt được tình hình, có những phương án chuẩn bị kịp thời phòng cho đất nước xảy ra chiến tranh. Thời nhà Trần, với những đối tượng làm gian sổ hộ tịch để che giấu dân định sẽ bị xử phạt rất nặng, những kẻ đào ngũ có thể bị chặt ngón chân hoặc xử tử như tội phản quốc. Với các trường hợp được miễn quân dịch cũng được quy định cụ thể như: không lấy con trai độc nhất, không lấy con quan từ Bát phẩm trở lên... Cũng bởi sự chặt chẽ này mà quân số được huy động vào mỗi đợt chiến tranh không có sự chênh lệch nhiều với thực tế và sổ sách, góp phần đảm bảo được kế hoạch, phương án đã vạch ra.

 

4. Ý nghĩa của chính sách ngụ binh ư nông

Chính sách ngụ binh ư nông có ý nghĩa trong việc đảm bảo được lực lượng tham gia sản xuất vào thời bình, nhưng khi chiến tranh xảy đến hay triều đình cần sử dụng binh lính thì đều có thể đáp ứng được ngay. Điều này bởi các hoạt động trong thời bình chỉ cần một số lượng binh lính ổn định, thế nhưng trong thời chiến lại cần số lượng lớn binh lính, thậm chí càng nhiều thì càng góp phần đảm bảo được lực lượng. Do vậy chính sách này đáp ứng được nhu cầu với từng giai đoạn của đất nước, vừa gia tăng được sản xuất kinh tế, vừa đảm bảo được số lượng binh lính có thể huy động khi cần thiết.

Ngụ binh ư nông là một chính sách thể hiện sự liên kết chặt chẽ, hài hòa giữa việc quân với nông nghiệp, giữa kinh tế với quân sự, có thể chuyển hoá nhanh từ thời bình sang thời chiến khi cần thiết. Việc đưa quân về địa phương luân phiên tăng gia sản xuất cũng giúp lực lượng này tự túc được nguồn lương thức, giảm bớt gánh nặng về lương thực nuôi quân triều đình cho nhân dân.

 

5. Ưu điểm của chính sách ngụ binh ư nông

Chính sách ngụ binh ư nông là một chính sách đầy sáng tạo và thông minh, phù hợp với tình hình đất nước trong thời kì bấy giờ. Chính sách này có một số những ưu điểm phải kể tới như sau:

- Chính sách ngụ binh ư nông trước hết thể hiện một nước đi đầy thông minh, có thể vừa đảm bảo được quân số, vừa đảm bảo được lương thực cần thiết để duy trì khi xảy ra các cuộc chiến tranh kéo dài, giúp binh lính của ta thích ứng được với các hoàn cảnh khác nhau, cả ở thời bình lẫn thời chiến

- Thể hiện một quan điểm nông binh bất phân không phân biệt quân đội với nhân dân, ở đâu có dân ở đó sẽ có quân và ngược lại. Điều này phù hợp với việc xây dựng nền quốc phòng của một quốc gia không rộng lớn, lực lượng mỏng lại cần huy động cả tiềm lực sản xuất và đánh giặc

- Chính sách này cũng thể hiện tình quân dân thắm thiết - là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên những thắng lợi trong các trận đánh. 

Hy vọng bài viết trên của Luật Minh Khuê đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích, trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!