Mục lục bài viết

Trong các giao dịch vay tiền giữa cá nhân với cá nhân, mức lãi suất thường được thỏa thuận theo ngày, chẳng hạn như 1 nghìn, 2 nghìn hoặc 3 nghìn đồng trên mỗi triệu đồng tiền vay. Cách tính này tương đối phổ biến trong hoạt động cho vay tư nhân, nhưng không phải ai cũng biết mức lãi thực tế tương đương bao nhiêu phần trăm một năm và có phù hợp với quy định pháp luật hay không.

Đối với mức lãi 2 nghìn đồng/triệu/ngày, người vay phải trả 2.000 đồng tiền lãi mỗi ngày cho mỗi 1 triệu đồng tiền gốc. Nếu quy đổi theo năm có 365 ngày, mức lãi suất tương đương 73%/năm, cao hơn đáng kể so với giới hạn 20%/năm áp dụng đối với các khoản vay dân sự thông thường theo Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, việc cho vay vượt quá lãi suất dân sự tối đa không đồng nghĩa với việc người cho vay đương nhiên phạm tội cho vay lãi nặng. Để xác định trách nhiệm pháp lý, cần xem xét mức lãi suất thực tế, các khoản phí liên quan, số tiền thu lợi bất chính và những điều kiện cụ thể của giao dịch.

 

1. Cho vay lãi 2 nghìn/triệu/ngày là bao nhiêu % một năm?

1.1. Hiểu đúng về mức lãi suất 2 nghìn/triệu/ngày

Cho vay lãi 2 nghìn/triệu/ngày là cách gọi thông thường của hình thức cho vay có lãi suất 2.000 đồng mỗi ngày trên 1.000.000 đồng tiền gốc.

Theo cách tính này, cứ vay 1 triệu đồng thì người vay phải trả 2.000 đồng tiền lãi mỗi ngày, chưa tính đến việc hoàn trả tiền gốc.

Ví dụ, nếu vay 10 triệu đồng với mức lãi 2 nghìn/triệu/ngày thì số tiền lãi phải trả là:

  • Một ngày: 20.000 đồng.
  • Mười ngày: 200.000 đồng.
  • Ba mươi ngày: 600.000 đồng.
  • Một năm có 365 ngày: 7.300.000 đồng.

Các con số trên được tính theo phương pháp lãi đơn, giả định số tiền gốc không thay đổi trong suốt thời gian vay và không phát sinh thêm khoản phí nào.

Như vậy, nếu vay 10 triệu đồng trong một năm với mức lãi này, người vay phải trả 7,3 triệu đồng tiền lãi, chưa kể 10 triệu đồng tiền gốc.

 

1.2. Cách quy đổi lãi suất 2 nghìn/triệu/ngày sang phần trăm

Để xác định mức lãi suất theo phần trăm, cần lấy số tiền lãi phải trả trong một ngày chia cho số tiền gốc, sau đó nhân với 100%.

Cụ thể:

Lãi suất một ngày = (2.000 : 1.000.000) × 100% = 0,2%/ngày.

Từ mức lãi suất 0,2%/ngày, có thể quy đổi sang tháng và năm như sau:

Lãi suất một tháng 30 ngày = 0,2% × 30 = 6%/tháng.

Lãi suất một năm 365 ngày = 0,2% × 365 = 73%/năm.

Nếu áp dụng quy ước một năm có 360 ngày thì mức lãi suất tương đương 72%/năm.

Có thể tổng hợp kết quả quy đổi như sau:

Thời gian tính lãi Tiền lãi trên 1 triệu đồng Lãi suất tương đương
1 ngày 2.000 đồng 0,2%
10 ngày 20.000 đồng 2%
30 ngày 60.000 đồng 6%
90 ngày 180.000 đồng 18%
365 ngày 730.000 đồng 73%

Như vậy, mức cho vay 2 nghìn/triệu/ngày tương đương 73%/năm nếu tính theo 365 ngày và không nhập lãi vào gốc.

 

1.3. Ví dụ tính tiền lãi đối với các khoản vay khác nhau

Để dễ hình dung, có thể xem xét một số khoản vay phổ biến với mức lãi 2 nghìn/triệu/ngày.

Số tiền vay Tiền lãi mỗi ngày Tiền lãi trong 30 ngày Tiền lãi trong 365 ngày
1 triệu đồng 2.000 đồng 60.000 đồng 730.000 đồng
5 triệu đồng 10.000 đồng 300.000 đồng 3.650.000 đồng
10 triệu đồng 20.000 đồng 600.000 đồng 7.300.000 đồng
20 triệu đồng 40.000 đồng 1.200.000 đồng 14.600.000 đồng
50 triệu đồng 100.000 đồng 3.000.000 đồng 36.500.000 đồng
100 triệu đồng 200.000 đồng 6.000.000 đồng 73.000.000 đồng

Các ví dụ cho thấy số tiền lãi tăng tương ứng với số tiền vay.

Đặc biệt, đối với khoản vay có giá trị lớn hoặc thời gian vay kéo dài, số tiền lãi có thể trở thành gánh nặng đáng kể.

Đây cũng là lý do người vay cần quy đổi mức lãi suất theo ngày sang tỷ lệ phần trăm một năm trước khi quyết định ký kết hợp đồng.

 

2. Mức lãi suất 2 nghìn/triệu/ngày có bị coi là cho vay nặng lãi?

2.1. Lãi suất 2 nghìn/triệu/ngày có vượt mức pháp luật cho phép không?

Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì mức lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Đối chiếu với quy định này:

  • Mức lãi suất tối đa thông thường theo pháp luật dân sự là 20%/năm.
  • Mức lãi 2 nghìn/triệu/ngày tương đương 73%/năm.
  • Mức lãi suất thực tế cao gấp 3,65 lần giới hạn 20%/năm.

Như vậy, nếu đây là khoản vay dân sự thông thường thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 468 Bộ luật Dân sự, mức lãi 2 nghìn/triệu/ngày đã vượt quá giới hạn pháp luật cho phép.

Theo quy định, phần lãi suất vượt quá 20%/năm không có hiệu lực.

Điều này có nghĩa là người cho vay không thể căn cứ vào thỏa thuận để yêu cầu bên vay thanh toán toàn bộ phần lãi vượt quá giới hạn pháp luật.

Ví dụ, một người cho vay 100 triệu đồng với mức lãi suất 73%/năm trong thời hạn một năm.

Theo thỏa thuận, tiền lãi là 73 triệu đồng.

Tuy nhiên, nếu áp dụng giới hạn 20%/năm của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa có hiệu lực chỉ là 20 triệu đồng.

Phần lãi vượt quá là 53 triệu đồng không có hiệu lực pháp luật.

Nếu phát sinh tranh chấp, việc xử lý khoản lãi đã thanh toán cần căn cứ vào tình trạng thực hiện nghĩa vụ và quy định pháp luật có liên quan.

 

2.2. Cho vay lãi 2 nghìn/triệu/ngày có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Cần phân biệt giữa hành vi cho vay vượt quá giới hạn lãi suất dân sự và tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, một trong những điều kiện để cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là mức lãi suất cho vay phải gấp 5 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự.

Với giới hạn lãi suất dân sự là 20%/năm, ngưỡng lãi suất để xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 201 là từ 100%/năm trở lên.

Ngoài điều kiện về lãi suất, hành vi còn phải thuộc một trong những trường hợp sau:

  • Thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên.
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
  • Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Như vậy, mức lãi 2 nghìn/triệu/ngày tương đương 73%/năm, chưa đạt ngưỡng lãi suất 100%/năm.

Nếu chỉ xét riêng mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày, không có khoản thu bổ sung làm tăng lãi suất thực tế, thì hành vi chưa đáp ứng điều kiện về lãi suất để cấu thành tội cho vay lãi nặng theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là thỏa thuận lãi suất 73%/năm hợp pháp.

Phần lãi vượt quá 20%/năm vẫn không có hiệu lực trong quan hệ vay dân sự thông thường.

 

2.3. Trường hợp thu thêm phí có thể làm thay đổi bản chất giao dịch

Trong thực tế, một số khoản vay không chỉ phát sinh tiền lãi theo thỏa thuận mà còn kèm theo nhiều khoản phí khác.

Chẳng hạn:

  • Phí làm hồ sơ vay tiền.
  • Phí quản lý khoản vay.
  • Phí tư vấn hoặc hỗ trợ giải ngân.
  • Khoản tiền bị giữ lại ngay khi giao tiền vay.
  • Những khoản thu khác có bản chất là tiền lãi.

Khi xem xét dấu hiệu cho vay lãi nặng, cơ quan có thẩm quyền có thể đánh giá bản chất thực tế của các khoản tiền mà bên vay phải trả, thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi trên hợp đồng.

Ví dụ, bên cho vay công bố mức lãi 2.000 đồng/triệu/ngày nhưng đồng thời yêu cầu người vay thanh toán thêm một khoản phí bắt buộc.

Nếu khoản phí đó thực chất là tiền lãi, chi phí vay thực tế có thể cao hơn mức 73%/năm được công bố.

Trường hợp tổng lãi suất thực tế đạt từ 100%/năm trở lên và đáp ứng các điều kiện khác của Điều 201 Bộ luật Hình sự, người cho vay có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Căn cứ pháp lý: Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP.

 

3. Quy định của pháp luật về mức lãi suất cho vay tối đa

3.1. Mức lãi suất tối đa đối với hợp đồng vay dân sự

Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là căn cứ pháp lý quan trọng khi xác định mức lãi suất trong các giao dịch vay tài sản thông thường.

Theo đó, các bên được quyền thỏa thuận về việc có trả lãi hay không và mức lãi suất áp dụng.

Tuy nhiên, quyền thỏa thuận phải tuân thủ giới hạn pháp luật.

Đối với khoản vay thuộc phạm vi áp dụng của quy định này, mức lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Ví dụ, nếu một cá nhân cho người khác vay 50 triệu đồng trong thời hạn một năm, mức tiền lãi tối đa theo giới hạn 20%/năm là 10 triệu đồng.

Nếu hai bên thỏa thuận mức lãi 30%/năm thì phần lãi vượt quá 20%/năm không có hiệu lực.

Như vậy, pháp luật vẫn tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên nhưng đặt ra giới hạn nhằm bảo vệ sự công bằng trong giao dịch.

 

3.2. Lãi suất áp dụng khi hợp đồng không xác định rõ mức lãi

Không phải mọi hợp đồng vay tiền đều ghi nhận rõ ràng mức lãi suất.

Trong thực tế, có những trường hợp hai bên chỉ thỏa thuận rằng khoản vay phải trả lãi nhưng không xác định cụ thể tỷ lệ lãi suất.

Theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Với giới hạn 20%/năm, mức lãi suất tương ứng là 10%/năm.

Ví dụ, ông A cho ông B vay 100 triệu đồng trong thời hạn một năm.

Hai bên có thỏa thuận khoản vay phải trả lãi nhưng không xác định mức lãi cụ thể.

Khi phát sinh tranh chấp, nếu đáp ứng điều kiện áp dụng khoản 2 Điều 468, mức lãi suất được xác định là 10%/năm.

Theo đó, số tiền lãi trong một năm là 10 triệu đồng.

Cần phân biệt trường hợp này với khoản vay không có lãi. Nếu các bên thỏa thuận vay không có lãi thì không thể tự động áp dụng mức 10%/năm cho thời gian vay đúng hạn.

 

3.3. Lãi suất cho vay của ngân hàng và tổ chức tín dụng

Giới hạn 20%/năm tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không được áp dụng một cách máy móc cho mọi khoản vay trong nền kinh tế.

Đối với hoạt động cho vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng được cấp phép, việc xác định lãi suất còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành.

Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và các quy định liên quan, tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về lãi suất trong phạm vi pháp luật cho phép, trừ những trường hợp cơ quan có thẩm quyền quy định giới hạn hoặc cơ chế riêng.

Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc một khoản vay ngân hàng có lãi suất cao hơn 20%/năm để kết luận khoản vay đó trái pháp luật.

Muốn đánh giá tính hợp pháp của lãi suất tín dụng, cần xem xét loại hình tổ chức cho vay, sản phẩm tín dụng, hợp đồng và quy định chuyên ngành áp dụng.

 

3.4. Lãi suất chậm trả và lãi suất quá hạn

Ngoài lãi suất trong thời hạn vay, pháp luật còn có quy định về nghĩa vụ trả lãi khi người vay không thực hiện đúng thời hạn thanh toán.

Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Đối với khoản vay có lãi, khi đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, tùy trường hợp, bên vay có thể phải thanh toán:

  • Lãi trên nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận trong thời hạn vay.
  • Lãi chậm trả đối với khoản tiền lãi chưa thanh toán theo quy định pháp luật.
  • Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo mức bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác phù hợp pháp luật.

Việc tính lãi quá hạn phải căn cứ vào từng khoản nợ, thời gian chậm trả và nội dung hợp đồng.

Không nên nhầm lẫn mức lãi suất quá hạn với lãi suất cho vay thông thường hoặc cho rằng mọi khoản tiền chậm trả đều có thể áp dụng cùng một cách tính.

Căn cứ pháp lý: Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

 

4. Các hình thức xử phạt đối với hành vi cho vay nặng lãi

4.1. Hậu quả pháp lý về dân sự

Khi các bên thỏa thuận lãi suất vượt quá giới hạn được pháp luật dân sự cho phép, hậu quả trực tiếp là phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với khoản vay dân sự thông thường, phần lãi vượt quá 20%/năm không được pháp luật công nhận.

Ví dụ, ông A cho ông B vay 100 triệu đồng trong thời hạn một năm với mức lãi suất 73%/năm.

Tiền lãi theo thỏa thuận là 73 triệu đồng.

Tuy nhiên, mức lãi tối đa có hiệu lực theo Điều 468 là 20 triệu đồng.

Phần chênh lệch 53 triệu đồng không có hiệu lực.

Nếu bên vay chưa thanh toán khoản lãi vượt mức, bên cho vay không có quyền yêu cầu thực hiện phần thỏa thuận không có hiệu lực đó.

Nếu bên vay đã thanh toán, việc hoàn trả hoặc xử lý khoản tiền vượt mức được xem xét theo quy định pháp luật dân sự và tình tiết cụ thể của vụ việc.

Cần lưu ý rằng việc phần lãi vượt mức không có hiệu lực không đồng nghĩa toàn bộ hợp đồng vay đương nhiên vô hiệu hoặc người vay được miễn nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc.

 

4.2. Xử phạt vi phạm hành chính

Ngoài hậu quả về dân sự, một số hành vi cho vay với lãi suất vượt mức pháp luật cho phép còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Điểm d và điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với các hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này, trong đó có:

  • Kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
  • Hoạt động cho vay thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 12, liên quan đến việc không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và cho vay với lãi suất vượt mức quy định.

Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng không phải mọi giao dịch vay tiền giữa hai cá nhân có lãi suất trên 20%/năm đều đương nhiên bị phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Muốn áp dụng chế tài hành chính, phải xác định hành vi thực tế đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của quy định xử phạt tương ứng.

Ví dụ, một người cho bạn bè vay tiền với lãi suất 73%/năm có thể phát sinh hậu quả pháp lý về dân sự do phần lãi vượt mức không có hiệu lực.

Nhưng để kết luận người đó bị xử phạt hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP, cần xem xét thêm tính chất hoạt động cho vay và các điều kiện được quy định tại điều khoản xử phạt.

Căn cứ pháp lý: Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

 

4.3. Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng

Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Theo đó, người thực hiện hành vi cho vay với lãi suất gấp 5 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đồng thời đáp ứng các điều kiện luật định.

Với mức lãi suất dân sự tối đa 20%/năm, ngưỡng lãi suất tương ứng để xem xét trách nhiệm hình sự là từ 100%/năm.

Các khung hình phạt được quy định như sau:

Trường hợp vi phạm Hình phạt chính
Cho vay với lãi suất từ 100%/năm trở lên và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, hoặc thuộc trường hợp tái vi phạm theo Điều 201 Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 3 năm
Cho vay với lãi suất từ 100%/năm trở lên và thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên Phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Như vậy, mức hình phạt cao nhất theo Điều 201 Bộ luật Hình sự là 3 năm tù.

Cần nhấn mạnh rằng việc xác định tội phạm không chỉ dựa vào lãi suất ghi trên giấy vay tiền.

Cơ quan có thẩm quyền còn phải xác định mức lãi suất thực tế, khoản thu lợi bất chính và những tình tiết khác theo quy định.

 

4.4. Xử lý tiền gốc và tiền lãi trong vụ án cho vay lãi nặng

Một vấn đề thường được quan tâm là khi người cho vay bị truy cứu trách nhiệm hình sự, khoản tiền gốc và tiền lãi sẽ được xử lý như thế nào.

Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn việc áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự và xử lý các khoản tiền, tài sản liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng.

Theo đó, cần phân biệt các khoản tiền có bản chất pháp lý khác nhau.

Đối với tiền gốc sử dụng để cho vay lãi nặng, việc xử lý được thực hiện theo quy định về vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm.

Đối với tiền lãi tương ứng với mức lãi suất tối đa mà Bộ luật Dân sự cho phép, việc xử lý cũng được thực hiện theo hướng dẫn của nghị quyết.

Riêng khoản thu lợi bất chính là phần vượt quá mức lãi suất hợp pháp, nguyên tắc xử lý có sự khác biệt.

Khoản tiền thu lợi bất chính đã thu của người vay được xem xét trả lại cho người vay, trừ trường hợp thuộc diện phải tịch thu theo quy định.

Vì vậy, không thể hiểu rằng khi người cho vay bị xử lý hình sự thì người vay đương nhiên được xóa toàn bộ khoản nợ.

Việc xử lý tiền gốc, tiền lãi và các khoản đã thanh toán phải căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Căn cứ pháp lý: Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP.

 

5. Cách tính lãi suất cho vay đúng quy định pháp luật

5.1. Công thức tính lãi suất cho vay theo năm

Đối với khoản vay áp dụng phương pháp tính lãi đơn, tiền lãi được xác định dựa trên ba yếu tố:

  • Số tiền gốc.
  • Mức lãi suất.
  • Thời gian vay.

Công thức tính tiền lãi theo năm:

Tiền lãi = Tiền gốc × Lãi suất năm × Thời gian vay tính theo năm.

Ví dụ, ông A cho ông B vay 100 triệu đồng với lãi suất 12%/năm trong thời hạn một năm.

Số tiền lãi được xác định như sau:

100.000.000 × 12% × 1 = 12.000.000 đồng.

Như vậy, sau một năm, nếu không phát sinh khoản thanh toán trước hạn hoặc nghĩa vụ khác, ông B phải thanh toán tổng cộng 112 triệu đồng, gồm 100 triệu đồng tiền gốc và 12 triệu đồng tiền lãi.

 

5.2. Cách tính lãi suất theo tháng

Để quy đổi lãi suất năm sang tháng theo phương pháp chia đều, có thể lấy mức lãi suất năm chia cho 12.

Ví dụ, mức lãi suất 18%/năm tương đương 1,5%/tháng.

Nếu vay 50 triệu đồng với lãi suất 1,5%/tháng trong thời hạn 3 tháng, tiền lãi được tính như sau:

50.000.000 × 1,5% × 3 = 2.250.000 đồng.

Tổng số tiền phải thanh toán sau 3 tháng là 52.250.000 đồng, nếu tiền gốc không thay đổi và không phát sinh khoản phí khác.

Cách tính này phù hợp với trường hợp các bên thỏa thuận tính lãi đơn theo tháng.

Đối với khoản vay có lịch trả gốc định kỳ, tiền lãi từng kỳ cần được xác định trên dư nợ tương ứng theo thỏa thuận.

 

5.3. Cách tính lãi suất theo ngày

Đối với khoản vay tính lãi theo ngày, tiền lãi được xác định dựa trên số ngày vay thực tế.

Công thức tham khảo:

Tiền lãi = Tiền gốc × Lãi suất năm × Số ngày vay : 365.

Ví dụ, ông A cho ông B vay 30 triệu đồng trong thời hạn 60 ngày với mức lãi suất 18%/năm.

Số tiền lãi là:

30.000.000 × 18% × 60 : 365 = khoảng 887.671 đồng.

Như vậy, sau 60 ngày, tổng số tiền phải thanh toán là khoảng 30.887.671 đồng nếu chưa trả gốc hoặc lãi trong thời hạn vay.

Việc sử dụng mẫu số 365 trong ví dụ nhằm quy đổi theo năm có 365 ngày. Khi áp dụng vào giao dịch thực tế, cần xem xét cách xác định thời gian tính lãi trong hợp đồng và quy định pháp luật có liên quan.

 

5.4. Mức lãi tối đa trên 1 triệu đồng trong một ngày

Đối với khoản vay dân sự thông thường chịu giới hạn 20%/năm, có thể tính mức tiền lãi tối đa trên mỗi triệu đồng theo ngày như sau:

1.000.000 × 20% : 365 = khoảng 547,95 đồng/ngày.

Như vậy, nếu quy đổi theo năm có 365 ngày, mức lãi tối đa tương đương khoảng 548 đồng trên mỗi triệu đồng tiền gốc trong một ngày.

Nếu quy đổi theo quy ước 360 ngày, kết quả là khoảng 555,56 đồng/ngày.

Có thể so sánh hai mức lãi suất:

Tiêu chí Lãi suất tối đa 20%/năm Lãi 2 nghìn/triệu/ngày
Lãi suất theo ngày Khoảng 0,0548% 0,2%
Tiền lãi trên 1 triệu đồng/ngày Khoảng 548 đồng 2.000 đồng
Lãi suất theo năm 365 ngày 20% 73%
Tiền lãi trên 100 triệu đồng/năm 20 triệu đồng 73 triệu đồng

Bảng so sánh cho thấy mức lãi 2 nghìn/triệu/ngày cao hơn nhiều so với giới hạn thông thường của pháp luật dân sự.

Tuy nhiên, mức 548 đồng/ngày chỉ là kết quả quy đổi tham khảo từ giới hạn 20%/năm, không phải một mức trần theo ngày được Điều 468 quy định độc lập.

 

5.5. Cách tính phần tiền lãi vượt quá quy định

Để xác định phần tiền lãi vượt mức trong khoản vay dân sự thông thường, cần thực hiện ba bước.

Bước thứ nhất, xác định tổng tiền lãi theo thỏa thuận.

Bước thứ hai, xác định số tiền lãi tối đa tương ứng với mức 20%/năm.

Bước thứ ba, lấy số tiền lãi theo thỏa thuận trừ đi số tiền lãi tối đa được pháp luật công nhận.

Ví dụ, ông A cho ông B vay 200 triệu đồng với mức lãi 2.000 đồng/triệu/ngày trong thời hạn 60 ngày.

Tiền lãi mỗi ngày là:

200 × 2.000 = 400.000 đồng.

Tổng tiền lãi theo thỏa thuận trong 60 ngày:

400.000 × 60 = 24.000.000 đồng.

Tiền lãi tối đa theo mức 20%/năm, tính trên cơ sở 365 ngày:

200.000.000 × 20% × 60 : 365 = khoảng 6.575.342 đồng.

Phần tiền lãi vượt mức:

24.000.000 - 6.575.342 = khoảng 17.424.658 đồng.

Như vậy, trong ví dụ này, phần lãi vượt quá giới hạn dân sự là khoảng 17,42 triệu đồng.

Phần vượt mức không có hiệu lực theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Cần phân biệt phần lãi vượt mức trong một giao dịch dân sự với khoản thu lợi bất chính dùng để xác định trách nhiệm hình sự. Việc tính thu lợi bất chính theo Điều 201 Bộ luật Hình sự phải tuân thủ hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, bao gồm việc xác định số tiền thực tế đã thu hoặc khoản tiền được tính theo hướng dẫn trong trường hợp khoản vay chưa kết thúc.

 

5.6. Những lưu ý khi thỏa thuận và thanh toán lãi vay

Để hạn chế tranh chấp, các bên cần xác định rõ những nội dung cơ bản của giao dịch.

Trước hết, hợp đồng nên ghi cụ thể số tiền vay, thời hạn vay và mức lãi suất.

Lãi suất cần được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm theo năm hoặc có phương pháp quy đổi rõ ràng để tránh hiểu nhầm.

Bên cạnh đó, cần xác định thời điểm bắt đầu tính lãi, phương thức trả lãi và cách xử lý khi bên vay thanh toán trước hạn hoặc chậm trả.

Nếu khoản vay có các khoản phí khác, các bên cần làm rõ bản chất và căn cứ thu phí.

Không nên sử dụng các khoản phí để che giấu phần tiền lãi vượt quá giới hạn pháp luật.

Đối với bên vay, cần lưu giữ hợp đồng, giấy biên nhận, sao kê chuyển khoản và các tài liệu thể hiện quá trình thanh toán.

Đây là những chứng cứ quan trọng nếu phát sinh tranh chấp về số tiền gốc, tiền lãi hoặc nghĩa vụ trả nợ.

Đối với bên cho vay, việc tuân thủ giới hạn lãi suất không chỉ giúp bảo đảm hiệu lực của thỏa thuận mà còn hạn chế nguy cơ phát sinh trách nhiệm pháp lý.

 

6. Một số câu hỏi thường gặp về cho vay lãi 2 nghìn/triệu/ngày

6.1. Cho vay 2 nghìn/triệu/ngày có vi phạm pháp luật không?

Có, nếu đây là khoản vay dân sự thông thường chịu giới hạn lãi suất 20%/năm theo Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Mức lãi 2 nghìn/triệu/ngày tương đương 73%/năm, vượt quá giới hạn pháp luật cho phép.

Tuy nhiên, cần phân biệt hậu quả dân sự với trách nhiệm hành chính và hình sự. Không phải mọi trường hợp vượt quá 20%/năm đều đương nhiên bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

6.2. Cho vay 2 nghìn/triệu/ngày có bị đi tù không?

Nếu chỉ có mức lãi 2.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 73%/năm, thì chưa đạt ngưỡng lãi suất từ 100%/năm để cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, nếu giao dịch còn có các khoản thu mang bản chất tiền lãi khiến mức lãi suất thực tế đạt ngưỡng hình sự, đồng thời đáp ứng những điều kiện luật định khác, người cho vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

6.3. Cho vay bao nhiêu nghìn đồng trên một triệu mỗi ngày thì có nguy cơ bị xử lý hình sự?

Nếu tính theo năm có 365 ngày, mức lãi suất 100%/năm tương đương khoảng 2.739,73 đồng trên mỗi triệu đồng tiền gốc trong một ngày.

Do đó, mức lãi khoảng 2.740 đồng/triệu/ngày đã tương đương ngưỡng 100%/năm.

Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự còn phụ thuộc vào số tiền thu lợi bất chính hoặc điều kiện về việc đã bị xử phạt, kết án mà còn vi phạm theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.

 

6.4. Người vay có phải trả phần lãi vượt quá 20%/năm không?

Đối với khoản vay dân sự thông thường thuộc phạm vi áp dụng của Điều 468 Bộ luật Dân sự, phần lãi suất vượt quá 20%/năm không có hiệu lực.

Vì vậy, bên cho vay không có căn cứ pháp lý để yêu cầu thanh toán phần lãi vượt mức đó.

Nếu đã thanh toán phần lãi vượt mức, người vay có thể yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật dân sự.

 

6.5. Cho vay không có giấy tờ nhưng tính lãi cao có xử lý được không?

Việc không lập hợp đồng bằng văn bản không đồng nghĩa giao dịch vay tiền không tồn tại hoặc không thể được xem xét giải quyết.

Tùy trường hợp, giao dịch có thể được chứng minh bằng các tài liệu như tin nhắn, sao kê chuyển khoản, giấy biên nhận hoặc những chứng cứ hợp pháp khác.

Nếu có tranh chấp, các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nếu phát hiện dấu hiệu của hành vi cho vay lãi nặng hoặc hành vi vi phạm pháp luật khác, người liên quan có thể cung cấp tài liệu cho cơ quan có thẩm quyền để xem xét.

 

6.6. Khi người cho vay bị xử lý hình sự, người vay có được xóa nợ không?

Không thể mặc nhiên kết luận người vay được xóa toàn bộ khoản nợ.

Trong vụ án cho vay lãi nặng, việc xử lý tiền gốc, tiền lãi và khoản thu lợi bất chính được thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP.

Tùy từng trường hợp, khoản tiền gốc và các khoản tiền liên quan có thể bị xử lý theo quyết định của Tòa án.

Do đó, người vay cần phân biệt giữa việc không phải thanh toán phần lãi vượt mức với nghĩa vụ liên quan đến khoản tiền gốc đã nhận.

 

Kết luận

Cho vay lãi 2 nghìn đồng trên mỗi triệu đồng tiền gốc trong một ngày tương đương mức lãi suất 0,2%/ngày, 6%/tháng nếu tính tháng 30 ngày và 73%/năm nếu tính năm 365 ngày.

Đối với khoản vay dân sự thông thường, mức lãi suất này vượt quá giới hạn 20%/năm được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, phần lãi vượt quá giới hạn không có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, mức lãi suất 73%/năm chưa đạt ngưỡng từ 100%/năm để xem xét tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự. Việc xử lý hành chính hoặc hình sự còn phải căn cứ vào đầy đủ các dấu hiệu của hành vi vi phạm.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, cả người vay và người cho vay cần xác định rõ lãi suất thực tế, phương pháp tính lãi, các khoản phí phát sinh và nghĩa vụ thanh toán trước khi giao kết hợp đồng.

Ngoài ra, quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm: