Ngày 28.1.2016 vì một số lý do người bạn tôi xin mượn lại xe đã thế chấp và chúng tôi có làm thêm một hợp đồng mượn lại xe đã thế chấp này (có ngày hẹn trả xe nếu người bạn tôi không trả hết tiền đã vay) khi làm hợp đồng mượn xe có người thứ 3 ký xác nhận và làm chứng và tôi còn giữ lại cavet xe máy này. Nay đã quá ngày trả xe và tiền cho tôi nhưng người bạn tôi không trả tiền và cùng không có ý trả lại xe hoặc đã cầm xe cho người khác. Tôi vẫn còn giữ cavet xe máy này.

Xin hỏi luật sư người này có phạm vào tội lừa đảo không và tôi có thể tố cáo người này tội lừa đảo không? trường hợp này của tôi là dân sự hay hình sự?

Kính mong luật sư giải đáp thắc mắc này giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội​

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

Bộ luật Dân sự năm 2015 

- Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 

2. Nội dung phân tích:

Sau khi nghiên cứu câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

**Thứ nhất, về việc thế chấp chiếc xe máy.

Theo quy định của pháp luật: Giấy đăng ký xe là giấy tờ Nhà nước cấp cho chủ sở hữu xe để công nhận quyền sở hữu của người đó đối với chiếc xe. Giấy đăng ký xe là giấy tờ chứng minh quyền tài sản và là căn cứ để chủ sở hữu xe thực hiện các quyền của chủ sở hữu theo Điều 164 Bộ luật Dân sự: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.

Nếu bạn của bạn mua xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ, điều đó có nghĩa là chiếc xe máy này không thuộc quyề sở hữu của bạn.

Đồng thời, Bộ luật dân sự cũng quy định rõ về thế chấp tài sản, như sau:

Ðiều 342. Thế chấp tài sản.

1.Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. 

Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.

2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

3. Việc thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Ðiều 715 đến Ðiều 721 của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Như vậy, việc thế chấp tài sản chỉ được coi là đúng quy định pháp luật khi tài sản đem ra thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Trong trường hợp của bạn, chiếc xe máy mà bạn bạn đem ra thế chấp không thuộc sở hữu hợp pháp của bạn bạn, do đó, hợp đồng thế chấp vô hiệu.

**Thứ hai, việc bạn của bạn mượn lại xe đã "thế chấp" và sau đó không trả xe cũng không trả tiền thì có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

>> Xem thêm:  Độ tuổi được đứng tên trên giấy đăng ký xe ? Thủ tục cấp lại đăng ký xe

>> Về hành vi lấy chiếc xe máy: 

Như đã trình bày ở trên, chiếc xe đó không thuộc sở hữu của bạn cũng như bạn của bạn, mà theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì: 

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Theo quy định này thì tài sản phải thuộc sở hữu của người bị hại, mà trong trường hợp này, chiếc xe đó không phải sở hữ của bạn cũng như bạn bạn, do đó, bạn bạn không phạm tội lừa đảo đối với hành vi lấy chiếc xe máy.

>> Về hành vi không trả tiền vay:

Theo thông tin bạn đã cung cấp, bạn và bạn bạn có ký hợp đồng vay số tiền là 90 triệu và có hẹn ngày trả, nhưng đã quá hạn mà bạn bạn vẫn không trả tiền hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 139 Bộ luật hình sự (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) hoặc điều 140 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Theo quy định tại điều 139, người có hành vi dùng “thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng và cao nhất là tù chung thân.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Như vậy, để xử lý một người về tội danh này, cần chứng minh được người đó đã có “hành vi gian dối” khi huy động vốn để chiếm đoạt như tạo vỏ bọc là một doanh nghiệp làm ăn phát đạt, có nhiều nhà đất, xe cộ, cửa hàng kinh doanh hoặc dùng "mồi nhử" người gửi tiền dạng như đang có dự án lớn, đang có chỗ đầu tư bất động sản hời… nên cần huy động vốn dù với lãi suất cao…

Theo quy định tại Điều 140, người có một trong những hành vi dưới đây nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể bị xử phạt cao nhất là tù chung thân và còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

>> Xem thêm:  Thủ tục, lệ phí sang tên xe máy, xe ô tô cũ đã qua nhiều đời chủ ?

Trong trường hợp của bạn, bạn của bạn đã có hành vi không trả tiền vay, như vậy, hành vi này đã thỏa mãn cấu thành tội phạm quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự: tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chứ không pahir tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Và bạn hoàn toàn có quyền tố giác người phạm tội tại cơ qoan có thẩm quyền (Cơ quan công an, viện kiển sát, tòa án, các cơ quan, tổ chức khác nhứ: ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân,...)

*** Trường hợp của bạn vừa liên quan đến lĩnh vực luật dân sự vừa liên quan đến lĩnh vực luật hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

Trân trọng./.                        

Bộ phận Luật sư hình sự - Công ty luật MInh Khuê 

>> Xem thêm:  Thủ tục sang tên đổi chủ xe máy theo quy định mới nhất của pháp luật hiện nay ?