1. Tóm tắt nội dung yêu cầu tư vấn của khách hàng:

Xin chào luật sư, Hiện tại tôi và chồng tôi mới mua một chiếc xe cũ ở showroom ô tô, trên hợp đồng mua bán xe đứng tên chồng tôi. Và chồng tôi muốn sau khi mua xe thì làm thủ tục bán lại cho cô ruột của chồng để cô bốc biển số Sài Gòn vì cô có hộ khẩu ở Sài gòn sau đó sẽ uỷ quyền lại cho chồng tôi.

Vậy, chiếc xe này có thuộc tài sản chung của vợ chồng tôi không và nếu ly hôn thì ô tô này tính làm tài sản chia cho cả 2 vợ chồng không?

Xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: Nguyễn Thị N.D

Luật sư tư vấn:

Kính thưa quý khách hàng, Công ty Luật TNHH Minh Khuê xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

Tài sản sẽ được chia làm hai nhóm:

Một là tài sản chung của vợ chồng, được quy định cụ thể tại khoản 1, Điều 33 luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1.Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Hai là, tài sản riêng của vợ chồng được quy định cụ thể tại Điều 43, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Điều 59,Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Đối chiếu với trường hợp của khách hàng, thứ nhất về vấn đề xe. Căn cứ vào các quy định trên, xác định tại thời điểm hai vợ chồng chị mua xe ô tô tại showroom thì tài sản này được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

Sau khi ký hợp đồng mua bán xe với phía showroom thì chồng chị phải làm thủ tục đăng ký sang tên xe cho chồng chị trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày ký công chứng hợp đồng mua bán theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 Thông tư số 58/2020/TT-BCA quy định về cấp thu hồi đăng ký biển số phương tienj giao thông vận tải, cụ thể như sau:

"Điều 6. Trách nhiệm của chủ xe

4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe thì tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng, được phân bổ, thừa kế xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục cấp đăng ký, biển số".

Tuy nhiên, sau khi đứng tên xe, nếu chồng chị bán lại cho Cô ruột của chồng với mục đích để xe được cấp biển Sài Gòn và sau đó Cô sẽ làm văn bản ủy quyền lại cho chồng chị. Trường hợp này, kể từ thời điểm làm hợp đồng mua bán và xe được sang tên cho Cô ruột của chồng chị thì tài sản đã chuyển quyền sở hữu sang cho Cô. Tài sản tại thời điểm này không còn là tài sản chung của vợ chồng chị nữa.

Về vấn đề ủy quyền, theo văn bản ủy quyền thì chồng chị chỉ là bên nhận ủy quyền, được thực hiện các quyền đối với chiếc xe tương ứng với nội dung quy định trong văn bản ủy quyền. Khác với chuyển giao, việc ủy quyền không làm mất “quyền” mà bên ủy quyền đã ủy quyền cho cá nhân /tổ chức khác. Theo đó, chiếc xe này chủ sở hữu vẫn là Cô ruột chồng chị chứ không phải của vợ chồng anh chị.

Như vậy, tại thời điểm Cô ruột của chồng chị đứng tên trên Đăng ký xe thì về mặt pháp lý, tài sản này không còn là tài sản chung của hai vợ chồng. Nếu trường hợp hai vợ chồng ly hôn thì tài sản sẽ không được đem vào để xác định là tài sản chung để phân chia.

2. Chia tài sản trong trường hợp sống chung với bố mẹ chồng.

Chào luật sư, tôi có một số vấn đề thắc mắc cần được giải đáp, như sau: Tôi và chồng tôi kết hôn từ năm 2016, sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống với bố mẹ chồng. Ngoài việc đóng góp tiền sinh hoạt chung hàng tháng, vợ chồng tôi còn đóng góp tiền sữa chữa nhà và mua sắm nhiều vật dụng đắt tiền trong nhà như tủ lạnh, điều hòa, ti vi,...Gần đây, mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên tôi muốn ly hôn. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về việc chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với nhau?.

Theo như quy định tại Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình như sau:

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này".

Như vậy trong trường hợp của bạn, bạn và chồng bạn cần bàn bạc, thỏa thuận với gia đình nhà chồng về việc chia tài sản trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của bạn vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình, nếu không thể thỏa thuận được thì các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề này.

3. Ly hôn có bắt buộc phải tách khẩu luôn không?

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi đang gặp một số vấn đề về hôn nhân gia đình, cụ thể như sau: Tôi với chồng tôi kết hôn với nhau đến nay cũng đã được 4 năm, tuy nhiên gần đây tôi với chồng tôi có rất nhiều mâu thuần, cả hai bên đều không thể tìm được tiếng nói chun nên tôi đã yêu cầu Tòa án giải qyết ly hôn. Ngay sau khi bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, chồng tôi đã yêu cầu tôi phải dọn đi ra khỏi nhà - ngôi nhà chồng tôi được bố mẹ tặng cho riêng trước khi chúng tôi cưới nhau. Nhưng tạm thời tôi chưa tìm được chỗ ở phù hợp, vậy tôi có thể xin ở đó thêm một thời gian được không?.

Trả lời

Theo quy định tại Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền lưu cư của vợ chồng sau ly hôn, cụ thể như sau:

"Điều 63. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn

Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác".

Như vậy trong trường hợp nêu trên bạn có quyền yêu cầu người chồng cũ cho bạn lưu cư tại ngôi nhà của anh ấy trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật.

4. Pháp luật quy định như thế nào về trường hợp gia đình ép kết hôn?

Tôi và H yêu nhau được hai năm, đang tính chuyện xin phép hai gia đình để làm đám cưới, nhưng bố của H không đồng ý vì gia đình tôi quá nghèo. Bố H đã nhận lời làm xui gia với gia đình ông B nên muốn H lấy con trai ông B là N (Việt kiều Canada). H không đồng ý với quyết định của bố về việc bị ép lấy người mà mình không yêu. Tuy nhiên để giải thích cho bố hiểu, H cũng như tôi không biết nên dựa trên những quy định của pháp luật nào? Vậy cho tôi hỏi pháp luật xử lý như thế nào đối với trường hợp bố H có tình ép H phải kết hôn với con của ông B?.

Trả lời

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể như sau:

"Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng".

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

Và khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định như sau:

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi".

Như vậy bố của H đã có dấu hiệu vi phạm hai quy định về nguyên tắc và điều kiện kết hôn. Thứ nhất là cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và thứ hai là cưỡng ép kết hôn giữa H và con trai ông B mà H không hề quen biết.

Pháp luật Hôn nhân và gia đình còn quy định các hình thức xử lý đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật nêu trên, cụ thể Khoản 3 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình”.

Đồng thời, tại Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định về mức phạt đối với hành vi cưỡng ép kết hông, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cụ thể như sau:

"Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác".

Như vậy nếu bố H cố tình cản trở hôn nhân giữa bạn và H và ép buộc H lấy con trai ông B thì bố của H có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

>> Xem thêm:  Vợ ở nhà chăm con, không có thu nhập thì phân chia tài sản chung khi ly hôn giải quyết như thế nào ?

5. Kết hôn có phải theo tôn giáo chồng không?.

Luật sư cho tôi hỏi, gia đình tôi theo Phật giáo, gia đình chồng tôi lại theo đạo Thiên chúa. Gia đình nhà trai đã đặt vấn đề và đề nghị bố mẹ tôi trước khi tổ chức đám cưới thì làm lễ cho tôi chuyển sang đạo Thiên chúa giáo. Xin hỏi pháp luật có quy định bắt buộc khi kết hôn thì phải theo tôn giáo của chồng không?.

Theo Khoản 1, 2 Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:

"Điều 24.

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo".

Đồng thời Điều 22 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có quy định như sau:

"Điều 22. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng

Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau".

Căn cứ vào các quy định nêu trên của pháp luật thì việc theo hay không theo một tôn giáo nào là quyền của công dân. Do vậy, vợ chồng bạn cần có sự trao đổi, thảo luận để tìm ra tiếng nói chung, giải quyết ổn thỏa mối quan hệ, không được dùng bất cứ một hành động nào để ép buộc vợ, chồng phải từ bỏ tôn giáo mà họ đang theo để theo tôn giáo bên chồng hoặc bên vợ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của Quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, Mọi vướng mắc của quý khách Hãy gọi ngay: 1900.6162, Chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật Hành Chính - Công ty Luật TNHH Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tiêu chuẩn để làm giáo viên dạy lái xe ô tô năm 2020

>> Xem thêm:  Thủ tục sang tên đổi chủ xe ô tô theo quy định mới năm 2020 ?