1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là gì?

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm được biết đến là hai trường phái triết học lớn trong lịch sử triết học, giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm có sự đối lập căn bản trong quan niệm về nguồn gốc, bản chất và tính thống nhất của thế giới.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng được biết đến chính là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới được ra đời  đã có vai trò quan trọng và giúp có thể khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật.

Theo quan điểm duy vật thì nguồn gốc, bản chất và tính thống nhất của thế giới là vật chất, còn theo quan điểm duy tâm thì đó là ý thức (hay tinh thần).

Ta nhận thấy rằng, chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn tại mà chủ nghĩa duy vật biện chứng còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy.

Đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng chính là cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học; là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Triết học Mác - Lênin về bản chất chính là triết học duy vật, bởi triết học đó coi ý thức là tính chất của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người và nhiệm vụ của bộ não người đó chính là phản ánh giới tự nhiên. Sự phản ánh đó sẽ có tính biện chứng, bởi vì thông qua đó mà con người nhận thức được mối quan hệ qua lại chung nhất giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất; bên cạnh đó cũng sẽ nhận thức được rằng, sự vận động và phát triển của thế giới là kết quả của các mâu thuẫn đang tồn tại bên trong thế giới đang vận động đó.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng chính là hình thức cao nhất trong các hình thức của chủ nghĩa duy vật. Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng được thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Giải quyết duy vật biện chứng vấn đề cơ bản của triết học

- Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ là phương pháp giải thích, nhận thức thế giới, mà chủ nghĩa duy vật biện chứng còn là phương pháp cải tạo thế giới của giai cấp công nhân trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội

- Quan niệm duy vật về lịch sử là cuộc cách mạng trong học thuyết về xã hội

-  Sự thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng, lý luận với thực tiễn tạo nên tính sáng tạo của triết học Mác - Lênin.

>> Xem thêm: Nguyên tắc của phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và việc vận dụng nó vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam

 

2. Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Phép biện chứng duy vật gồm có 3 quy luật cơ bản cụ thể sau đây:

- Thứ nhất: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có nội dung bao gồm:

+ Các khái niệm về mâu thuẫn và mặt đối lập, thống nhất, đấu tranh và chuyển biến của các mặt đối lập;

+ Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có nội dung là đưa ra vai trò của thống nhất, đấu tranh và chuyển biến của các mặt đối lập trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.

+ Ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn của quy luật.

- Thứ hai: Quy luật chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại có nội dung bao gồm:

+ Vị trí của quy luật trong phép biện chứng là một nội dung của quy luật chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.

+ Nội dung quy luật: Các khái niệm: “chất”, “lượng”, “độ”, “điểm nút”, “bước nhảy”.

+ Biện chứng giữa chất và lượng.

 + Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật.

- Thứ ba: Quy luật phủ định của phủ định có nội dung bao gồm:

+ Vị trí của quy luật trong phép biện chứng.

+ Các khái niêm: “phủ định”, “phủ định của phủ định”.

+ Tính chu kỳ và khuynh hướng xoáy ốc của sự phát triển.

+ Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật.

Các phạm trù cơ bản của phép duy vật biện chứng:

Các phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật bao gồm có 6 phạm trù cơ bản như sau:

- Cái chung - Cái riêng là một phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.

- Nội dung - Hình thức là một phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.

- Nguyên nhân - Kết quả là một phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.

- Tất nhiên - Ngẫu nhiên là một phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.

- Khả năng - Hiện thực là một phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.

- Bản chất - Hiện tượng là một phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.

>> Tham khảo: Quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất? Ví dụ

 

3. Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Phương pháp luận biện chứng là một trong những phương pháp luận rất quan trọng trong cả Triết học phương Đông và triết học phương Tây ở thời cổ đại. Theo đó, phương pháp luận biện chứng đóng vai trò nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, chúng ảnh hưởng nhau, chúng ràng buộc nhau. Nhận thức được đối tượng ở trong trạng thái vận động biến đổi, nó nằm trong khuynh hướng chung chính là phát triển. Đây là một quá trình thay đổi về chất đối với các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của những sự thay đổi ấy chính là đấu tranh của các mặt đối lập nhằm để giải quyết các mâu thuẫn nội tại của chúng.

Như vậy, có thể thấy phương pháp biện chứng thể hiện được tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Phương pháp biện chứng thừa nhận rằng trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” thì còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; không những thế nó còn thừa nhận một chỉnh thể nào đó trong lúc “vừa là nó lại vừa không phải là nó”; ngoài ra nó còn thừa nhận cái gọi là khẳng định và cái gọi là phủ định, nó vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

Phương pháp biện chứng phản ánh được cái hiện thực đúng như nó đang tồn tại. Nhờ vậy mà phương pháp tư duy biện chứng đã trở thành những công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức được và cải tạo thế giới.

 

4. Ví dụ về chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Ví dụ về phép duy vật biện chứng theo quy luật phủ định của phủ định:

Ví dụ như một con rắn giống cái được được coi là cái khẳng định, nhưng khi con rắn giống cái đó đẻ trứng thì quả trứng được đẻ ra đó sẽ được coi là cái phủ định của rắn giống cái. Sau đó quả trứng rắn cũng sẽ cần phải trải qua thời gian vận động và phát triển thì quả trứng lại nở ra con rắn con. Vậy con rắn con lúc này sẽ được coi là cái phủ định của phủ định, mà phủ định của phủ định thì sẽ trở thành cái khẳng định. Sự vận động và phát triển theo quy luật phủ định của phủ định này luôn diễn ra liên tục vận động và phát triển và có tính chu kỳ.

- Ví dụ về phép duy vật biện chứng theo quy luật chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại:

Sau khi tan làm, đối tượng A đi xe máy với quãng đường 10 cây số từ cơ quan để có thể về đến nhà. Lúc này, tất cả sự thay đổi trong quãng đường mà A di chuyển từ cơ quan đến trước khi về đến nhà được coi là sự thay đổi về lượng, cho đến thời điểm A về đến nhà thì đó là có thay đổi về chất. Như vậy trong trường hợp cụ thể được nêu này, chúng ta có thể thấy sự thay đổi về lượng đã dẫn đến sự thay đổi về chất.

>> Xem thêm: Phân tích bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạt nhân của thế giới quan khoa học

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về vấn đề này. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ. Xin trân trọng cảm ơn!