Chứng khoán hóa là việc chuyển khoản vay ngân hàng và các tài sản khác thành các chứng khoán khả mại để bán cho các nhà đầu tư. Các chứng khoán được chào bán có thể được mua bởi các định chế ký thác hay các nhà đầu tư phi ngân hàng. Theo nghĩa rộng hơn, việc tài trợ công ty thông qua Tín phiếu có Lãi suất Thả nổi và thương phiếu châu Âu, thay thế cho các khoản vay ngân hàng như một phương tiện vay, là hình thức chứng khoán hóa.
Bằng việc chứng khoán hóa các khoản vay và các khoản tín dụng phải thu của ngân hàng, các định chế tài chính Mỹ có thể dịch chuyển các tài sản ngân hàng khỏi bảng cân đối kế toán nếu một số điều kiện nhất định được đáp ứng - làm tăng tỷ lệ vốn của nó, và thực hiện các khoản cho vay mới từ tiền thu được do bán chứng khoán cho các nhà đầu tư. Quá trình này sáp nhập hiệu quả các thị trường tín dụng (ví dụ, thị trường cầm cố trong đó những người cho vay thực hiện các cầm cố mới) và thị trường vốn, bởi vì các khoản phải thu của ngân hàng được tái đóng gói thành các trái phiếu được thế chấp bởi tổ hợp các cầm cố, khoản vay mua xe, thẻ tín dụng phải thu, hợp đồng thuê mua, và các hình thức nợ tín dụng khác.
Vì các ngân hàng coi các hhà đầu tư như người nắm giữ chủ yếu các khoản nợ được ngân hàng cho vay, nên các ngân hàng là một ngành công nghiệp có xu hướng hành động như người bán các tài sản vốn, thay vl những người cho vay theo danh mục, giữ tất cả các khoản vay mà họ đã cấp phát trong danh mục đầu tư của chính họ. Việc chứng khoán hóa cũng tái xác định về định nghĩa của ngân hàng về chất lượng tài sản, và các tiêu chuẩn bảo lãnh khoản vay, vì những người cho vay sẽ chú ý đến chất lượng khoản vay nhiều hơn về phương diện khả mại của chúng trong thị trường vốn, thay vì xác suất hoàn trả của người vay.
Với mục đích báo cáo cho cơ quan điều tiết, một khoản vay được chuyển thành chứng khoán và được bán như chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản, sẽ đủ điều kiện như việc bán tài sản. Người bán không chịu rủi ro lỗ từ các tài sản được chuyển, và không có nghĩa vụ đối với người mua trong trường hợp người vay không chi trả, hay những thay đổi giá trị thị trường chứng khoán đã bán. Việc chuyển nhượng tài sản trong đó người mua có quyền truy đòi từ định chế bán được coi là sự tài trợ hay việc vay được bảo đảm bằng tài sản. Việc chứng khoán hóa các tài sản ngân hàng thì phức tạp hơn bởi các quy định của ủy ban Chứng khoán và Hối đoái, và các nguyên tắc kế toán. Nên có tư vấn về thuế trong việc cơ cấu các đợt phát hành chứng khoán mới ra thị trường.