- 1. Hợp đồng bảo hiểm tài sản là gì?
- 2. Trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
- 3. Các yếu tố làm phát sinh việc chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản
- 4. Trách nhiệm đảm bảo an toàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
- 5. Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là gì?
Kính chào công ty Luật Minh Khuê, tôi là Minh Tâm, hiện đang làm bên mảng xuất nhập khẩu, vừa qua công ty tôi có lô hàng bị hỏa hoạn, lô hàng này đã được công ty chúng tôi mua bảo hiểm. Trong quá trình giải quyết vấn đề về hợp đồng bảo hiểm đối với lô hàng này có một điều khiến tôi băn khoăn và chưa hiểu đó là bên công ty bảo hiểm có yêu cầu chúng tôi chuyển yêu cầu đòi bồi hoàn cho họ. Xin luật sư cho biết, quy định này được hiểu như thế nào? Và họ làm vậy có đúng không? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Cơ sở pháp lý:
- Luật dân sự năm 2015
- Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi năm 2020
1. Hợp đồng bảo hiểm tài sản là gì?
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản.
2. Trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Tại Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm có quy định về trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn. Cụ thể:
1. Trong trường hợp người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm.
2. Trong trường hợp người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tuỳ theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm không được yêu cầu cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người được bảo hiểm bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho người được bảo hiểm, trừ trường hợp những người này cố ý gây ra tổn thất.
Theo đó, công ty bảo hiểm có quyền được nhận chuyển quyền đòi bồi hoàn từ công ty bạn trong trường hợp việc xảy ra hỏa hoạn là do lỗi của 1 bên thứ 3 gây ra và bên bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho công ty ban. Cũng theo quy định này, công ty bạn có nghĩa vụ phải chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn cho công ty bảo hiểm.
3. Các yếu tố làm phát sinh việc chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản
Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm có thể thấy có các căn cứ làm phát sinh việc chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản như sau:
Thứ nhất, hợp đồng bảo hiểm
Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH) quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Nói cách khác, hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định của các bên trong quá trình mua bảo hiểm và chi trả bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là vật có thực, tiền, giấy tờ có giá và quyền về tài sản. Tuy nhiên, khi tài sản là đối tượng của bảo hiểm tài sản thì phải đảm bảo hai yếu tố sau:
- Phải tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản. Sở dĩ, có lý do này là vì bản chất của bảo hiểm tài sản là bên mua bảo hiểm chuyển giao những tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm gây ra đối với tài sản cho doanh nghiệp bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu thay, vì vậy phải có sự tồn tại thực tế của tài sản cần bảo hiểm.
Ví dụ: Khi muốn mua bảo hiểm tài sản đối với một công trình xây dựng thì công trình đó cần phải thuộc dự án đã được cấp phép, chủ đầu tư công trình phải chứng minh đủ điều kiện tài chính để hoàn thành xây dựng công trình; công trình đó phải bảo đảm về mặt pháp lý và tài chính. Khi muốn mua bảo hiểm vật chất xe thì người mua bảo hiểm đã phải có xe và giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với chiếc xe.
- Phải là tài sản bảo hiểm phải định giá được bằng tiền vì phí bảo hiểm được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản. Hơn nữa, giá trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm là giới hạn mức trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Chính vì vậy, tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên phải tính được giá trị của tài sản bảo hiểm thì mới tính được phí, từ đó mới xác định được mức trả tiền bảo hiểm tối đa của doanh nghiệp bảo hiểm đối với người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là cơ sở phát sinh chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản vì nó là cơ sở hình thành quan hệ bảo hiểm, mà muốn có quan hệ chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản thì phải có quan hệ bảo hiểm.
Thứ hai, phải có sự kiện bảo hiểm xảy ra, nguyên nhân dẫn đến tổn thất là do hành vi có lỗi của người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm và phải nằm trong phạm vi bảo hiểm
Sự kiện bảo hiểm xảy ra và nguyên nhân dẫn đến tổn thất là do hành vi có lỗi của người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm phải nằm trong phạm vi bảo hiểm là một trong các cơ sở hình thành nên việc chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản vì: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Đã là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền lưa chọn rủi ro để bảo hiểm vì nếu là các rủi ro hàng loạt sẽ dẫn đến doanh nghiệp bảo hiểm bị phá sản. Do đó, nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra là do hành vi có lỗi của người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm nhưng rủi ro gây ra thiệt hại này lại không nằm trong phạm vi bảo hiểm hoặc nằm trong trường hợp bị loại trừ thì khi đó, doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm phải bồi thường cho bên mua bảo hiểm và cũng có nghĩa là sẽ không có việc chuyển yêu cầu đòi người thứ ba bồi hoàn. Lúc này, bên mua bảo hiểm chỉ có thể yêu cầu bên gây ra thiệt hại bồi thường theo chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong luật dân sự mà thôi.
Thứ ba, có thiệt hại thực tế xảy ra và có lỗi
Bản chất của bồi thường nói chung là sự bù đắp thiệt hại. Trong quan hệ bồi thường dân sự nói chung và bồi thường trong bảo hiểm tài sản nói riêng, nếu có thiệt hại thực tế xảy ra đối với tài sản thì bên bị thiệt hại mới có quyền yêu cầu bên gây ra thiệt hại bồi thường. Đồng thời, vì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên gây ra thiệt hại bồi thường thiệt hai nên sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện xong trách nhiệm bồi thường cho bên được bảo hiểm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn cho bảo hiểm sẽ diễn ra. Khi đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trở thành bên thế quyền hay chủ thể mới có quyền yêu cầu bên thứ ba thực hiện hành vi có lỗi gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm trả lại cho mình khoản tiền đã bồi thường cho bên được bảo hiểm và khi đó việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản mới được xác lập. Do vậy, thiệt hại thực tế xảy ra là cơ sở cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.
Có thể nói rằng, thiệt hại không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, từ đó xác lập nên việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.
Ngoài ra, khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các bên cũng cần quan tâm đến yếu tố lỗi của bên thứ ba thực hiện hành vi gây ra thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm. Do pháp luật kinh doanh bảo hiểm không có quy định cụ thể về lỗi của bên thứ ba gây ra thiệt hại đối với tài sản được bảo hiểm; vì vậy cần phải quay lại quy định về lỗi trong luật dân sự tức là gồm cả “lỗi cố ý và lỗi vô ý” để giải quyết vấn đề: thiệt hại thực tế xảy ra là cơ sở cho việc chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản.
Thứ tư, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải hoàn thành trách nhiệm bồi thường trước cho bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm
Yếu tố này được hình thành trên cơ sở, trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm không phát sinh từ hành vi gây thiệt hại đối với tài sản được bảo hiểm mà phát sinh từ cam kết gánh chịu rủi ro thay cho người được bảo hiểm. Do vậy, nếu có thiệt hại xảy ra do lỗi của người thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm thì trước tiên doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường bảo hiểm theo cam kết trong hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, do thiệt hại này là do lỗi của người thứ ba gây ra, và theo quy định của pháp luật dân sự, khi một người gây ra thiệt hại cho người khác thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường bảo hiểm, tức đã thực hiện xong trách nhiệm trả tiền bảo hiểm, họ được quyền đòi lại số tiền họ đã trả do lỗi của người thứ ba gây ra.
Do vậy, có thể nói rằng, doanh nghiệp bảo hiểm hoàn thành trách nhiệm bồi thường trước cho bên được bảo hiểm khi có thiệt hại do bên thứ ba gây ra đối với tài sản được bảo hiểm là một trong các cơ sở hình thành việc chuyển quyền yêu cầu đòi (người thứ ba) bồi thường trong bảo hiểm tài sản.
4. Trách nhiệm đảm bảo an toàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Theo quy định tại Điều 50 Luật kinh doanh bảo hiểm, các bên trong hợp đồng bảo hiểm tài sản phải đảm bảo các quy định về an toàn như sau:
- Người được bảo hiểm phải thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động, vệ sinh lao động và những quy định khác của pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm.
- Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm hoặc khuyến nghị, yêu cầu người được bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro.
- Trong trường hợp người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền ấn định một thời hạn để người được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; nếu hết thời hạn này mà các biện pháp bảo đảm an toàn vẫn không được thực hiện thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
- Doanh nghiệp bảo hiểm có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm khi được sự đồng ý của bên mua bảo hiểm hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
5. Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là gì?
Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị.
Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm, sau khi trừ các chi phí hợp lý có liên quan. Trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê