Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Nhờ văn phòng Luật sư tư vấn giúp tôi về lĩnh vực đất đai:

Tôi là cán bộ Địa chính xã khác vừa chuyển đến. Hiện nay ở xã tôi đang công tác có vụ việc sau: Vào khoảng năm 1997 có hai hộ gia đình hiến đất để xây dựng phân trường tiểu học và có sự đóng góp của các hộ dân có con em học tại phân trường đấy với số tiền là 30.000đ/hô hỗ trợ về hoa mùa, đến năm 2002 có Quyết định của UBND huyện về việc cấp địa điểm xây dựng phân trường tiểu học và được xây dựng kiên cố cho con em học. Đến đầu năm 2019 học sinh chuyển về trường chính học, phân trường này được UBND huyện giao lại cho xã quản lý và xóm làm nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng.

Đến tháng 8 năm 2020 hai hộ gia đình đó đòi lại đất và tự ý đi rào hàng rào bằng cây xung quanh và khuôn viên trường học để trồng hoa mùa. Người dân phản ánh UBND xã đã xuống lập biên bản vi phạm hành chính yêu cầu hai gia đình đó tự tháo dỡ toàn bộ hàng rào và hoa màu do gia đình vi phạm nhưng gia đình vẫn không chấp hành mà còn chởi bới và thách thức chính quyền địa phương.

Sau đó UBND xã đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định cưỡng chế và đã thực hiện cưỡng chế trong một (01) ngày, UBND xã không làm đúng quy trình, trình tự thủ tục thời gian thực hiện.

Đến nay hai hộ gia đình lại tiếp tục rào và trồng hoa màu trong khuôn viên trường. Vậy tôi tiếp tục giải quyết lại từ đầu có được không? Căn cứ vào điều khoản, văn bản nào của Luật? Và trình tự thủ tục thực hiện giải quyết như nào ? Mong Luật sư tư vấn giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn Luật sư!

TRẢ LỜI:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

>> Xem thêm:  Thẩm quyền cưỡng chế của UBND cấp xã đối với công trình xây dựng trái phép ?

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017;

Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Theo thông tin quý khách cung cấp, hai hộ gia đình hiến đất cho Nhà nước. Đất này được Nhà nước sử dụng để xây dựng phân trường tiểu học. Năm 2002 có Quyết định của UBND huyện về việc cấp địa điểm xây dựng phân trường tiểu học và được xây dựng kiên cố cho con em học. Đến đầu năm 2019 học sinh chuyển về trường chính học, phân trường tiểu học được UBND huyện giao lại cho xã quản lý và xóm làm nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng. Như vậy, có thể thấy đất của hai hộ gia đình hiến đất cho Nhà nước và hiện tại thuộc sở hữu của Nhà nước và do UBND xã quản lý.

Tháng 8 năm 2020 hai hộ gia đình đó đòi lại đất và tự ý đi rào hàng rào bằng cây xung quanh và khuôn viên trường học để trồng hoa mùa. Người dân phản ánh UBND xã đã xuống lập biên bản vi phạm hành chính yêu cầu hai gia đình đó tự tháo dỡ toàn bộ hàng rào và hoa màu do gia đình vi phạm nhưng gia đình vẫn không chấp hành mà còn chửi bới và thách thức chính quyền địa phương.

Sau đó UBND xã đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Quyết định cưỡng chế và đã thực hiện cưỡng chế trong một (01) ngày. Như vậy, có thể thấy sự việc của hai hộ gia đình là hành vi lấn chiếm đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đã bị UBND xã ra quyết định xử phạt hành chính.

Tuy nhiên, đến nay hai hộ gia đình lại tiếp tục rào và trồng hoa màu trong khuôn viên trường.

Điều 228 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 quy định như sau:

Điều 228. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả (Mẫu biên bản số 06)

1. Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo quy định này, nếu người nào lấn chiếm đất đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai quy định tại Điều 228 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017.

Do đó, trong trường hợp này quý khách chuyển hồ sơ sự việc qua cơ quan công an xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Luật Minh Khuê. Trước khi xử lý sự việc ở góc độ hình sự. Qúy khách nên vận động, giải thích và thuyết phục người dân tuân thủ quy định pháp luật.

Câu hỏi bổ sung:

>> Xem thêm:  Quy trình thủ tục cưỡng chế thu hổi đất như thế nào mới đúng quy định của Pháp Luật?

Theo thông tin của quý khách cung cấp: UBND xã đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định cưỡng chế và đã thực hiện cưỡng chế trong một (01) ngày, UBND xã không làm đúng quy trình, trình tự thủ tục thời gian thực hiện cưỡng chế.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:

“Điều 3. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính

1. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

b) Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

c) Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

d) Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.

Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.

>> Xem thêm:  Mẫu cưỡng chế thu tiền, tài sản để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Mẫu số 09)

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;

đ) Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

e) Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.”

Theo điểm đ Khoản 1 nêu trên, một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Do đó, hành vi này đã bị xử phạt hành chính thì không xử phạt lại. Nếu người này đã bị xử phạt hành chính, sau đó lại tiếp tục có hành vi vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017.

Đối với việc cưỡng chế, không có quy định về việc thực hiện cưỡng chế lại. Trường hợp cá nhân/tổ chức nào thực hiện cưỡng chế sai đến đâu thì chịu trách nhiệm đến đó đối với các thiệt hại gây ra do hành vi vi phạm pháp luật. (trong trường hợp này là thực hiện thủ tục cưỡng chế sai)

Khoản 4 Điều 17 luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 quy định:

“Điều 17. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

4. Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;”

Như phân tích ở trên, quyết định cưỡng chế không có quy định hủy bỏ. Tuy nhiên, nếu quyết định xử phạt hành chính về đất đai trong trường hợp này có sai sót theo quy định tại Điều 6b nghị định 97/2017/NĐ- CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính Phủ hướng dẫn và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính.

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt (Mẫu số 08)

“Điều 6b. Hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính

1. Người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có vi phạm quy định pháp luật về thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính;

b) Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính;

c) Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại khoản 10 Điều 12 Luật xử lý vi phạm hành chính;

d) Có quyết định khởi tố vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đối với vụ việc vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính.

2. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định;

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại được ban hành dẫn đến việc thay đổi căn cứ, nội dung của quyết định về xử lý vi phạm hành chính.

3. Trong các trường hợp sau đây, nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính thì người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới:

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị (Phụ lục 6)

a) Các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1, khoản 2 Điều này;

b) Có bản án, quyết định của Tòa án về việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định về xử lý vi phạm hành chính bị khởi kiện.”

10. Bổ sung Điều 6c vào sau Điều 6b như sau:

Nếu quyết định xử phạt hành chính, có những sai sót thuộc các trường hợp nêu trên. Qúy khách có thể áp dụng để Hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp của quý khách theo quy định này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn đất đai”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bán hàng rong có bị xử phạt hay không ?