Căn cứ pháp lý:

- Luật kinh doanh bất động sản;

- Nghị định 58/2018/NĐ-CP.

1. Bảo hiểm nông nghiệp thuộc loại bảo hiểm nào?

Khoản 2 Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định:

2. Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

a) Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người;

b) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;

c) Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không;

d) Bảo hiểm hàng không;

đ) Bảo hiểm xe cơ giới;

e) Bảo hiểm cháy, nổ;

g) Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;

h) Bảo hiểm trách nhiệm chung;

i) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;

k) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;

l) Bảo hiểm nông nghiệp;

m) Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định.

Như vậy, bảo hiểm nông nghiệp là bảo hiểm phi nhân thọ.

2. Nguyên tắc thực hiện bảo hiểm nông nghiệp và chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp

- Bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận, không giới hạn tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và phạm vi địa bàn.

- Chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cho một số tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và trong phạm vi địa bàn nhất định nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ.

3. Có những loại bảo hiểm nông nghiệp nào?

Điều 4 Nghị định 58/2018/NĐ-CP quy định:

Điều 4. Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp

1. Bảo hiểm đối với rủi ro định danh, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho tổn thất thực tế do các rủi ro được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp gây ra.

2. Bảo hiểm mọi rủi ro, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho tổn thất thực tế do mọi rủi ro gây ra, trừ các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.

3. Bảo hiểm đối với tổn thất về thu nhập, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường chi phí sản xuất nông nghiệp để bù đắp cho tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm gây ra theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.

4. Bảo hiểm theo chỉ số năng suất, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo mức sụt giảm năng suất thực tế của một khu vực địa lý (huyện, xã,...) theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.

5. Bảo hiểm theo chỉ số thời tiết, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo biến động của chỉ số thời tiết (mưa, gió, hạn hán, ngập lụt, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần...) theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.

6. Bảo hiểm theo chỉ số viễn thám, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo sự biến động của chỉ số viễn thám theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.

7. Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp khác theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.

Như vậy, hiện nay có các loại bảo hiểm nông nghiệp sau:

- Bảo hiểm đối với rủi ro định danh;

- Bảo hiểm mọi rủi ro;

- Bảo hiểm đối với tổn thất về thu nhập;

- Bảo hiểm theo chỉ số năng suất;

- Bảo hiểm theo chỉ số thời tiết;

- Bảo hiểm theo chỉ số viễn thám;

- Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp khác theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.

4. Vai trò của bảo hiểm nông nghiệp đối với người nông dân

Bảo hiểm cây trồng và vật nuôi, được gọi chung là BHNN, có lịch sử lâu đời. Theo Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc-LHQ (FAO), các chương trình bảo hiểm ban đầu được ghi nhận sớm nhất là ở Đức là vào cuối những năm 1700. Vào cuối thế kỷ 19, nhiều nước châu Âu cũng như Mỹ có các chương trình bảo hiểm cây trồng, chủ yếu là chống mưa đá. Sự tham gia của chính quyền vào lĩnh vực bảo hiểm này được bắt đầu vào cuối những năm 1930 tại Mỹ khi bảo hiểm vụ mùa liên bang lần đầu tiên được đưa vào quy định trong Tiêu đề V của Đạo luật Điều chỉnh Nông nghiệp năm 1938...

Hiện nay, khoảng 70% diện tích đất toàn cầu được sử dụng cho nông nghiệp, đất đai và lâm nghiệp. Riêng ở châu Phi, nông nghiệp chiếm 70% việc làm toàn thời gian, 33% tổng sản phẩm quốc nội và 40% tổng thu nhập xuất khẩu. Mỗi năm, thiên tai và thảm hoạ như hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh động vật và tràn hóa chất... đã gây thiệt hại hàng chục tỷ USD cho nông dân ở các nước trên thế giới. Theo FAO, trong giai đoạn 2005-2015, thiên tai đã gây tổn thất 96 tỷ USD cho các ngành nông nghiệp của các nước đang phát triển, trong đó gây thiệt hại đến mùa màng và chăn nuôi, trong đó một nửa là tổn thất xảy ra ở châu Á. Ngành nông nghiệp đang hứng chịu gần 1/4 tổng thiệt hại về kinh tế do thiên tai gây ra từ năm 2005-2015. “Quy mô và mức độ đe doạ của thiên tai, thảm họa đến nông nghiệp ngày càng gia tăng, nhất là ảnh hưởng đến nông dân và các nhà sản xuất thực phẩm”, Tổng giám đốc FAO Jose Graziano da Silva nhấn mạnh. Từ đó, người ta càng đặt ra câu hỏi về vị trí của BHNN trong xã hội ngày nay.

Vì vậy, BHNN sẽ là “chỗ dựa” của người nông dân cũng như doanh nghiệp nông nghiệp. Công ty BHNN của Ấn Độ (AIC) khẳng định, BHNN sẽ bảo vệ cây trồng của những người tham gia hợp đồng khỏi những tổn thất không lường trước được. Phần lớn sinh kế của nông dân phụ thuộc vào chất lượng và sản lượng sản phẩm mà họ sản xuất, BHNN sẽ hỗ trợ họ trong việc chống lại đói nghèo. AIC chỉ ra một số lợi ích lớn của BHNN đem lại. Đầu tiên là ổn định thu nhập khi nó giống như một công cụ cho phép nông dân quản lý rủi ro về năng suất và giá cả, giúp bảo vệ người nông dân trước những thiệt hại do mất mùa, thiên tai, dịch bệnh. Thứ hai là tối giảm nợ khi người nông dân có thể hoàn trả các khoản vay của họ ngay cả trong thời gian mất mùa với sự hỗ trợ của các đối tác bảo hiểm phù hợp. Thứ ba là tiến bộ công nghệ khi khuyến khích việc áp dụng, nâng cao thực hành nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất. Thứ tư là bảo vệ năng suất cây trồng, kể cả khi số lượng bị tổn thất thì bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm đưa ra các biện pháp để phòng, tránh cũng như trồng lại vào vụ tới. Cuối cùng là nâng cao nhận thức của người nông dân về ảnh hưởng của thiên tai và cũng như các biện pháp bảo vệ trang trại của họ.

5. Bảo hiểm nông nghiệp tại một số nước

Bảo hiểm cây trồng liên bang lần đầu tiên được Quốc hội Mỹ cho phép vào những năm 1930. Đạo luật Bảo hiểm cây trồng liên bang năm 1980 đã mở rộng bảo hiểm cho nhiều loại cây trồng và vùng khác.

Theo thống kê, chương trình bảo hiểm cây trồng liên bang của Mỹ hiện áp dụng cho hơn 100 loại cây trồng, bảo hiểm mọi rủi ro với doanh thu khoảng 5 tỷ USD/năm. Chính phủ hỗ trợ cho BHNN bằng nhiều cách: cung cấp các khoản trợ cấp bảo hiểm (cho cây trồng một tỷ lệ phí khoảng từ 48% đến 67%, tỷ lệ bảo hiểm vật nuôi khoảng 13%), cung cấp miễn phí hợp đồng bảo hiểm năng suất thiên tai cơ bản cho toàn bộ diện tích cây trồng. Mức bồi thường của hợp đồng cơ bản này là phần tổn thất vượt quá 50% năng suất bình quân của 4 năm trước năm bị tổn thất và tỷ lệ bồi thường chỉ bằng 60% giá trị thị trường dự tính. Ngoài việc hưởng miễn phí theo hợp đồng bảo hiểm năng suất thiên tai cơ bản nói trên, nông dân có thể mua thêm mức trách nhiệm cao, với mức phí có trợ cấp 38% từ chính phủ.

Từ năm 2007, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện chính sách BHNN. Với vị trí hiện nay là nước xếp vị trí thứ 2 trên thế giới về thực hiện chính sách BHNN, Trung Quốc đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2022 sẽ xây dựng thành công hệ thống BHNN đa tầng, phù hợp với giai đoạn hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; đáp ứng nhu cầu bảo hiểm rủi ro của người nông dân. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm đối với ba loại lương thực chủ yếu là lúa nước, lúa mì và ngô sẽ đạt trên 70%; mật độ BHNN (chi phí bảo hiểm/số người làm nông nghiệp) đạt 500 nhân dân tệ/người. Trong đó, bảo hiểm thu nhập cho người nông dân được chú trọng phát triển, trở thành một loại hình quan trọng trong BHNN.

Quá trình thực hiện chương trình BHNN ở Trung Quốc có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa trung ương và các địa phương, đảm bảo nguyên tắc chính phủ hướng dẫn, thị trường vận hành, tự chủ tự nguyện, phối hợp hiệp đồng cùng phát triển. Nhà nước khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình BHNN. Tuy nhiên, chính quyền các địa phương không tham gia hoạt động kinh doanh cụ thể về BHNN, mà trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ về phát triển sản phẩm, định giá, hoạt động bảo lãnh của đơn vị bảo hiểm để điều tiết tính tích cực của chủ thể thị trường và thực hiện trợ giúp về nghiệp vụ bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Chính quyền từ cấp huyện trở lên chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức và điều phối công tác BHNN trong khu vực địa phương quản lý. Chính quyền cấp tỉnh, địa khu và thành phố trực thuộc có thể xác định mô hình kinh doanh BHNN phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của địa phương mình.

Tây Ban Nha có chương trình bảo hiểm quốc gia, thực hiện bởi Agroseguro - tập hợp các công ty bảo hiểm tư nhân hoạt động trong lĩnh vực BHNN theo cơ chế chia sẻ rủi ro của bảo hiểm tương hỗ, dưới sự bảo trợ của nhà nước. Bảo hiểm sẽ bao trùm mọi hiểm hoạ cho cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Nhà nước chịu 41%, nông dân chịu 59%. Chính quyền Madrid khuyến khích BHNN bằng cách không cứu trợ người nông dân khi tổn thất xảy ra do các rủi ro nằm trong chương trình bảo hiểm. Đối với tổn thất do các loại rủi ro không có trong chương trình bảo hiểm gây ra, có thể người nông dân sẽ được xem xét hỗ trợ, tuy nhiên, chỉ hỗ trợ khi họ đã mua bảo hiểm cho các rủi ro đã có trong chương trình bảo hiểm.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)