- 1. Yêu người đàn ông lớn hơn nhiều tuổi có sai không?
- 2. Pháp luật có cấm yêu và kết hôn với người đàn ông lớn hơn nhiều tuổi?
- 2.1 Khái niệm về kết hôn
- 2.2. Quy định chung về điều kiện kết hôn
- 2.3. Nam, nữ phải đủ tuổi kết hôn
- 2.4. Phải có sự tự nguyên của hai bên nam nữ
- 2.5. Người kết hôn không phải là người mất năng lực hành vi dân sự
- 2.6. Người kết hôn phải là hai người khác giới tính
1. Yêu người đàn ông lớn hơn nhiều tuổi có sai không?
Câu hỏi: Năm nay em 21 tuổi, bạn trai lớn hơn em 12 tuổi. Bố mẹ em không nói gì nhưng có vẻ cũng không ủng hộ.Từ nhỏ bố em đã hay đi làm xa nên cảm thấy thiếu tình thương của bố nhưng bố và em khá hợp nhau, không biết điều này có ảnh hưởng đến cách em chọn người yêu như vậy. Bạn bè hay nói đùa em đang yêu một người "bố". Chênh lệch 12 tuổi liệu có phải à khoảng cách quá lớn ? Liệu tình yêu này có thể bền vững ?
Trả lời:
Chào bạn,
Tôi cảm nhận rằng bạn có những băn khoăn khi người yêu lớn hơn bạn nhiều tuổi. Tôi xin chia sẻ cùng bạn vấn đề này.
Trước tiên, giả sử bạn có xu hướng chọn bạn đời có những đặc điểm giống với bố của bạn, điều này cũng hoàn toàn bình thường. Người bố luôn là người đàn ông đầu tiên trong cuộc đòi con gái. Sự gắn bó đầu tiên, cũng như những kinh nghiệm đầu tiên thường để lại những dấu vết trong kí ức của chúng ta và ảnh hưởng đến lựa chọn tương lai của ta. Vì vậy hình ảnh của bạn về bố mình ảnh hưởng đến cách bạn chọn bạn đời/người yêu cũng không có gì là bất thường.
Về vấn đề tuổi tác giữa bạn và người yêu, có lẽ sự trưởng thành chín chắn của người yêu giúp bạn cảm thấy có được chỗ dựa vững chắc và cảm thấy an toàn. Tất nhiên, khi yêu một người hơn mình nhiều tuổi cũng có những khó khăn riêng như sự khác biệt về lối sống, cách suy nghĩ, cách ứng xử nhưng theo tôi 12 tuổi không phải là một sự khác biệt lớn về thế hệ, nếu hai bạn đều độc thân thì mối quan hệ này chẳng có gì là sai trái cả, không có lí do nào để nói anh ấy giống "bố" bạn. Chuyện tình yêu thường trải qua những khó khăn khác nhau, tuổi tác chỉ là một yếu tố nhỏ trong đó. Thực tế, có nhiều cặp đôi chệnh lệch nhiều tuổi nhưng vẫn có thể hạnh phúc cùng nhau. Vấn đề là hoàn cảnh cụ thể của hai bạn và tình yêu giữa hai bạn. Nếu hai bạn thực sự yêu nhau và sẵn sàng đồng hành cùng nhau thì đừng quan tâm dư luận và những phán xét của mọi người.
Chúc bạn mọi điều tốt lành !
2. Pháp luật có cấm yêu và kết hôn với người đàn ông lớn hơn nhiều tuổi?
2.1 Khái niệm về kết hôn
Theo khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn được Luật hôn nhân và gia đình quy định và phải đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền thì việc kết hôn đó mới được công nhận là hợp pháp và giữa các bên nam nữ mới phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Theo đó điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn được pháp luật quy định như sau:
Đăng ký kết hôn là thủ tục pháp lý, là cơ sở để luật pháp bảo vệ quyền lợi và sự ràng buộc về nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân. Giấy đăng ký kết hôn là một loại giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để xác nhận về tình trạng hôn nhân của một cá nhân.
Việc đăng ký kết hôn là cơ sở để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người, trong trường hợp xảy ra tranh chấp về tài sản sẽ được pháp luật bảo vệ theo quy định.
2.2. Quy định chung về điều kiện kết hôn
Điều kiện kết hôn là đòi hỏi về mặt pháp lí đối với nam, nữ và chỉ khi thoả mãn những đòi hỏi đó thì nam, nữ mới có quyền kết hôn. Cổ luật và tục lệ ở Việt Nam đã buộc nam, nữ phải tuân theo một số quy định khi kết hôn.
Việc quy định điều kiện kết hôn cần phải được kết hợp với tri thức của nhiều ngành khoa học như y học, tâm lí học, xã hội học, luật học..., đồng thời, phải căn cứ vào phong tục, tập quán, truyền thống của mỗi dân tộc. Chính vì vậy, ở từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, căn cứ vào những yếu tố trên mà có những quy định khác nhau về điều kiện kết hôn.
Ở Việt Nam, Luật hôn nhân và gia đình những năm trước quy định nam, nữ khi kết hôn phải có những điều kiện sau:
1) Nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên;
2) Việc kết hôn phải do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hay cản trở;
3) Các bên nam, nữ không thuộc một trong các trường hợp cấp kết hôn.
Khi yêu cầu đăng kí kết hôn, nam nữ chưa đáp ứng những điều kiện trên thì cơ quan đăng kí kết hôn có quyền từ chối đăng kí kết hôn cho họ. Trong trường hợp nam, nữ đã được đăng kí kết hôn nhưng một trong các bên hoặc cả hai bên vi phạm một trong các điều kiện kết hôn thì việc kết hôn đó là trái pháp luật và Toà án có quyền huỷ bỏ việc kết hôn trái pháp luật đó khi có yêu cầu.
2.3. Nam, nữ phải đủ tuổi kết hôn
Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:
“Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới đủ tuổi kết hôn”.
- Pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu nam, nữ được phép kết hôn mà không quy định tuổi tối đa.
- Quy định này trước hết xuất phát từ cơ sở khoa học. Các nghiên cứu trong lĩnh vực y học đã chỉ rõ phải đạt đến độ tuổi này nam, nữ mới phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý. Do vậy, họ có thể sinh ra những đứa con khỏe mạnh về thể chất và trí tuệ. Đồng thời, họ cũng đủ trưởng thành để thực hiện các nghĩa vụ của người làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ; cùng nhau chia sẻ gánh vác các công việc gia đình...Vì thế, quy định về tuổi kết hôn này góp phần tạo dựng lên những cuộc hôn nhân hạnh phúc và bền vững.
- Quy định này còn dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán và truyền thống, văn hóa của dân tộc. Điều này giải thích rõ vì sao tuổi kết hôn trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau.
- Quy định về độ tuổi kết hôn tối thiểu đối với nữ theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 thể hiện sự thống nhất và đồng bộ vớLcác quy định trong hệ thống pháp luật. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải là người đủ 18 tuổi. Vì vậy, quy định về độ tuổi kết hôn theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 còn thể hiện sự thống nhất và đông bộ với các quy định trong hệ thống pháp luật.
- Cách tính tuổi: Với quy định về tuổi kết hôn theo pháp luật hiện hành, để tính tuổi kết hôn phải dựa vào cách tính tuổi tròn. Nghĩa là, chỉ coi là đủ tuổi kết hôn khi nam tròn 20 tuổi và nữ phải tròn 18 tuổi. Ví dụ: Nam sinh ngày 1-2-1992 thì đến ngày 1-2-2012 là đủ tuổi kết hôn. Như vậy từ ngày này trở đi, họ mới được phép kết hôn.
- Trên thực tế, vẫn có những trường hợp nam nữ lấy vợ lấy chồng khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Hiện tượng này được gọi là tảo hôn. Như vậy càn phải hiểu rằng tảo hôn không chỉ là việc nam nữ kết hôn trước tuổi luật định mà còn bao gồm cả trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước tuổi luật định. Theo điểm b khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13, “tảo hôn” được xác định là một trong các hành vi bị cấm. Vì vậy, kết hôn trước tuổi luật định sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Như vậy, kết hôn với người hơn nhiều tuổi hoàn toàn không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, hai bên phải tuân thủ những điều kiện khác theo Luật Hôn nhân và Gia đình.
2.4. Phải có sự tự nguyên của hai bên nam nữ
Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định: “việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” (Điểm b khoản 1 Điều 8).
- Tự nguyện trong kết hôn trước hết phải thể hiện bằng ý chí chủ quan của người kết hôn. Hai bên nam, nữ yêu thương nhau và tự mình quyết định xác lập quan hệ hôn nhân nhằm mục đích xây dựng gia đình. Ý chí này của mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi một bên hoặc của người thứ ba.
- Tự nguyện kết hôn còn thể hiện bằng dấu hiệu khách quan. Người kết hôn phải bày tỏ mong muốn được kết hôn với nhau trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hành vi đăng ký kết hôn. Vì thế, khi đăng ký kết hôn yêu cầu phải cố mặt của hai bên nam, nữ.
Quyền kết hôn là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân. Do vậy việc kết hôn phải do người kết hôn tự nguyện quyết định. Tự nguyện kết hôn là đảm bảo để quan hệ hôn nhân được xác lập phù hợp với lợi ích của người kết hôn, là cơ sở để xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Vì thế, Luật Hôn nhân và gia đình không quy định việc đại diện trong kết hôn đồng thời cấm hành vi cưỡng ép, lừa dối, cản trở việc kết hôn làm cho việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện.
2.5. Người kết hôn không phải là người mất năng lực hành vi dân sự
Điểm c khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định nam, nữ khi kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự.
Theo quy định theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Như vậy, tại thời điểm kết hôn mà một người có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó là người mất năng lực hành vi dân sự thì không đủ điều kiện kết hôn.
Quy định này đảm bảo tính logic với quy định về sự tự nguyện kết hôn. Bởi vì, người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự nguyện bày tỏ ý chí trong việc kết hôn. Do vậy, việc chuyển hóa từ một điều cấm thành một yêu cầu đối với người kết hôn là thể hiện rõ tính nhân văn của điều kiện kết hôn này.
Thực tiễn đời sống hôn nhân và gia đình cho thấy, nhiều trường họp người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tuy nhiên không có yêu cầu Tòa án tuyên người đó là người mất năng lực hành vi dân sự. Vì thế, họ vẫn đủ điều kiện kết hôn, trong khi đó việc kết hôn này có thể ảnh hưởng đến lợi ích của người kết hôn cũng như gia đình và xã hội. Vì vậy, cần phải có các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật cũng như ý thức tôn trọng quyền tự do kết hôn của cá nhân để mọi người tự giác thực hiện, tránh tình trạng quy định điều kiện chỉ mang tính chất hình thức.
2.6. Người kết hôn phải là hai người khác giới tính
Khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Do vậy, việc kết hôn phải là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới tính. Điều này có nghĩa, hôn nhân phải là sự “kết hợp” giữa nam và nữ. Quy định này trước hết tôn trọng quy luật tự nhiên. Mặt khác, trong bối cảnh chung của thế giới cũng như điều kiện thực tế của Việt Nam, việc quy định như vậy là cần thiết và phù hợp nhằm ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình. Thực tế, ở Việt Nam trong những năm gần đây có xuất hiện tình trạng những người cùng giới tính xác lập việc sống chung với nhau. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng không cấm hai người cùng giới tính sống chung. Vì vậy, việc sống chung giữa hai người cùng giới tính về nguyên tắc không bị coi là trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu một người đang có vợ, có chồng nhưng lại chung sống với người khác cùng giới tính với mình thì giải quyết như thế nào, trường họp này có xác định là người đang có vợ, có chồng đã vi phạm quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng hay không. Đây là vấn đề mà pháp luật hiện hành vẫn còn bỏ ngỏ. Nên chăng sớm có quy định cụ thể về những vấn đề này để bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan, góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình.
Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn chính thức cuối cùng của chuyên gia tâm lý. Nếu có điều gì cần chia sẻ, trợ giúp về tâm lý quý khách hãy gọi đến tổng đài tư vấn tâm lý : 1900.6162 chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cùng bạn tháo gỡ khó khăn !