Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Căn cứ pháp lý.

- Luật giao thông đường bộ 2008

Nghị đinh 171/2013/NĐ-CP

- Thông tư 09/2013/TT-BGTVT

- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

- Nghị định 11/2012/NĐ-CP

II. Nội dung

 1/.  Khoản 4 Điều 51 Luật giao thông đường bộ quy định như sau:

>> Xem thêm:  Khi vận chuyển hàng hóa trên đường cần phải mang theo giấy tờ gì ?

"4. Trạm kiểm tra tải trọng xe là nơi cơ quan quản lý đường bộ thực hiện việc thu thập, phân tích, đánh giá tác động của tải trọng xe, khổ giới hạn xe đến an toàn đường bộ; kiểm tra, xử lý vi phạm đối với xe quá khổ giới hạn, quá tải trọng cho phép của đường bộ và xe bánh xích lưu hành trên đường bộ, được xây dựng theo quy hoạch do Bộ Giao thông vận tải lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Trường hợp cần thiết, để bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định thành lập trạm kiểm tra tải trọng xe tạm thời."

Theo đó, các trạm kiểm tra tải trọng xe phải do Bộ GTVT quy hoạch xây dựng, nếu như trạm cân điện tử đó đáp ứng được các yêu cầu trên thì việc yêu cầu của cảnh sát GT là đúng quy định pháp luật, bạn phải chấp hành. Theo quy định tại Thông tư 90/2013/TT-BGTVT thì trạm KTTT cố định hay lưu động đều phải được phê duyệt rồi mới xây dựng, đặc biệt trạm KTTT lưu động được xây dựng theo nguyên tắc sau:

"Nguyên tắc lựa chọn vị trí đặt trạm KTTTX lưu động: Các trạm KTTTX lưu động được bố trí trên những đoạn, tuyến đường bộ xuất hiện tình trạng xe quá tải, quá khổ tham gia giao thông nhưng chưa có trạm KTTTX cố định hoạt động hoặc trên những đoạn, tuyến đường bộ có xe quá tải, quá khổ đi vòng để trốn, tránh việc kiểm tra, kiểm soát của trạm KTTTX cố định. Vị trí đặt trạm KTTTX lưu động theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền." (QCVN 66:2013/BGTVT).

Như vậy, việc kiểm tra tải trọng xe tại một điểm KTTT không thuộc chỉ định của cơ quan thẩm quyền là sai quy định pháp luật.

2/. Như đã trình bày ở trên, việc tiến hành KTTT xe phải được diễn ra tại các trạm KTTT theo quy định của nhà nước, nếu như việc kiểm tra tải trọng xe được diên ra tại một nơi mà bạn cảm thấy không đáp ứng được các yêu cầu trên, không thuộc nơi quy định do nhà nước ban hành thì bạn có quyền yêu cầu cho xem quyết định về việc trưng dụng đó. Nếu có vi phạm pháp luật, bạn hoàn toàn có thể khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3/.Theo quy định tại bộ QCVN 66: 2013/BGTVT thì các xe thuộc đối tượng điều tra khi đi qua trạm KTTT xe đều phải cân tải trọng, khi có báo hiệu về vi phạm thì mới bị xử phạt. Khoản 1 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định như sau:

"Điều 125. Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

1. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây:

a) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt. Trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng quy định của khoản 3 Điều 60 của Luật này;

>> Xem thêm:  Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước thì bị công an phạt bao nhiêu tiền ?

b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;

c) Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 Điều này."

Khoản 1, khoản 1 Điều 75 Nghị định 171/2013/NĐ-CP cũng quy định như sau:

"Điều 75: Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và giấy tờ vi phạm
1. Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 07 (bảy) ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các Điều, Khoản, Điểm sau đây của Nghị định này:
a) Điểm b Khoản 5; Điểm b, Điểm d Khoản 7; Khoản 8; Khoản 10 Điều 5;
b) Điểm b Khoản 5; Điểm b, Điểm e Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8; Khoản 9 Điều 6;
c) Điểm d Khoản 4; Điểm a Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 7;
d) Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều 8 trong trường hợp người vi phạm là người dưới 16 tuổi và điều khiển phương tiện;
đ) Khoản 4; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 16;
e) Khoản 3 Điều 17;
g) Điểm a, Điểm đ Khoản 1 Điều 19;
h) Khoản 1; Điểm a, Điểm c Khoản 4; Khoản 5; Khoản 6; Khoản 7 Điều 21.
2. Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc để xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định tại Khoản 6, Khoản 8 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản 6 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ".

Như vậy, với hành vi vi phạm của bạn (Điều 30, Điều 33 Nghị định 171/2013/NĐ-CP) thì sẽ không bị áp dụng quy định tạm giữ giấy tờ. Theo đó, hành vi của cảnh sát GT là sai quy định pháp luật.

4/. Việc giữ giấy tờ về quyền sở hữu tài sản thế chấp (giấy đăng ký xe) được thực hiện theo quy định tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm:

“Trong trường hợp tài sản thế chấp là tàu bay, tàu biển hoặc phương tiện giao thông quy định tại Điều 7a Nghị định này thì bên thế chấp giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu tàu bay, Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam, Giấy đăng ký phương tiện giao thông trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực”.

Theo quy định trên, khi thế chấp tài sản là phương tiện giao thông (xe ô tô...), bên thế chấp được quyền giữ bản chính đăng ký xe. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ làm xác nhận sao y giấy tờ xe, nêu rõ tài sản đang được thế chấp tại ngân hàng và ngân hàng đang giữ bản chính đăng ký xe. Bạn có thể cầm bản sao này để lưu hành trên đường và xuất trình cảnh sát giao thông khi có yêu cầu, theo như quy định tại Điều 7 Nghị định này:

"Điều 7a: Thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt

1. Sau khi đăng ký thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt và người yêu cầu đăng ký đã nộp phí yêu cầu cấp bản sao văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm thì cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm gửi 01 bản sao văn bản chứng nhận đăng ký đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký lưu hành phương tiện giao thông. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký phương tiện giao thông phải cập nhật thông tin về việc phương tiện giao thông đang được thế chấp ngay trong ngày nhận được bản sao văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm."

>> Xem thêm:  Thẩm quyền kiểm tra hành chính của Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động ?

Như vậy, nếu như giấy tờ đó vẫn có hiệu lực mà việc cảnh sát GT Cẩm Thủy không chấp nhận, vẫn phạt lỗi không mang theo đăng ký xe là trái quy định pháp luật.

5/. Theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 33 Nghị định 171/2013/NĐ-CP đối với người điều khiển xe quá tải trọng như sau:

"Điều 33. Xử phạt người điều khiển xe bánh xích; xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của cầu, đường (kể cả xe ô tô chở hành khách)

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

c) Điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 20% đến 50%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng"

Theo quy định tại Điểm k Khoản 5 Điều 30 xử phạt chủ phương tiện như sau:

"Điều 30. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

k) Giao hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại: Khoản 2; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Khoản 4 Điều 33 Nghị định này"

Như vậy, trong trường hợp này, chủ xe là cá nhân, sẽ bị phạt từ 2-4 triệu đồng, còn người điều khiển bị phạt từ 3-5 triệu đồng. Vậy quyết định xử phạt đối với chủ xe 13 tr đồng là sai quy định pháp luật.

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư dân sự.

>> Xem thêm:  Hỏi về quyền và nghĩa vụ của cảnh sát giao thông ? Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông