Công ty ngân hàng mẹ là công ty kiểm soát một hoặc nhiều ngân hàng thương mại. Các công ty ngân hàng mẹ được giám sát chặt chẽ bởi ủy ban Dự trữ Liên bang. Các công ty sở hữu ít nhất 25% số chứng khoán có quyền bỏ phiếu trong một ngân hàng, hay kiểm soát đa số trong ban giám đốc, được yêu cầu lập cáo cáo tài chính định kỳ cho ủy ban Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang. Các văn phòng chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài tại Hoa Kỳ cũng được giám sát bởi ủy ban Dự trữ Liên bang. Đạo luật công ty ngân hàng mẹ quy định các tiêu chuẩn mua lại, và cho phép mua lại giữa các tiểu bang và các ngân hàng chi nhánh trên toàn quốc.
Tuy bộ luật trước tiên giới hạn các hoạt động công ty ngân hàng mẹ trong các hoạt động có liên quan đến nghiệp vụ ngân hàng, Bộ luật GRAMM-LEACH-BLILEY năm 1999 mở rộng rõ rệt phạm vi các hoạt động ủy quyền, cho phép bất kỳ công ty ngân hàng mẹ vốn hóa tốt trở thành một công ty tài chính mẹ, cung cấp một loạt các nghiệp vụ ngân hàng, tư vấn đầu tư, và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm. Các công ty ngân hàng mẹ thường có thể nhận ra bởi những từ banc hay banc share trong tên của công ty.