Trong thời đại mạng xã hội và các nền tảng chia sẻ video phát triển mạnh mẽ, việc cover lại các ca khúc nổi tiếng đã trở thành xu hướng phổ biến đối với nhiều cá nhân và nhà sáng tạo nội dung. Tuy nhiên, bên cạnh yếu tố nghệ thuật và giải trí, hoạt động này cũng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến quyền tác giả và quyền liên quan. Vậy việc cover bài hát có vi phạm bản quyền hay không, trường hợp nào được phép thực hiện và khi nào cần xin phép chủ sở hữu quyền tác giả? Đây là những vấn đề mà người biểu diễn và người sử dụng tác phẩm cần hiểu rõ để tránh các rủi ro pháp lý phát sinh.
1. Cover bài hát là gì?
Cover bài hát là việc một cá nhân hoặc nhóm nghệ sĩ trình bày lại một ca khúc đã được công bố trước đó bởi người khác. Hoạt động này có thể giữ nguyên giai điệu, lời bài hát hoặc được biến tấu về phong cách, cách phối khí và hình thức thể hiện. Mục đích của việc cover thường nhằm bày tỏ sự yêu thích đối với tác phẩm gốc hoặc mang đến cho khán giả một trải nghiệm mới. Hiện nay, cover bài hát xuất hiện phổ biến trên các nền tảng mạng xã hội và dịch vụ chia sẻ video. Đây được xem là một hình thức sáng tạo và biểu diễn khá phổ biến trong lĩnh vực âm nhạc.
Khác với việc sáng tác một ca khúc mới, cover bài hát dựa trên nền tảng của tác phẩm đã có sẵn và tập trung vào cách thể hiện của người biểu diễn. Một bản cover có thể được trình bày theo nhiều phong cách khác nhau như acoustic, remix, ballad hoặc biểu diễn trực tiếp. Sự thành công của một bản cover thường phụ thuộc vào khả năng truyền tải cảm xúc và dấu ấn cá nhân của người thể hiện. Nhiều ca sĩ và nhà sáng tạo nội dung đã sử dụng hình thức này để tiếp cận khán giả và phát triển tên tuổi của mình. Vì vậy, cover bài hát không chỉ là hoạt động giải trí mà còn góp phần làm phong phú đời sống âm nhạc hiện đại.
2. Cover bài hát có vi phạm bản quyền không?
Bài hát là “tác phẩm âm nhạc” được bảo hộ quyền tác giả theo điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005, sửa đổi 2009. Khi tác phẩm được bảo hộ, tác giả/chủ sở hữu có các quyền nhân thân (Điều 19) và đặc biệt là quyền tài sản (Điều 20) như quyền biểu diễn trước công chúng, quyền truyền đạt tác phẩm qua internet và quyền cho phép người khác sử dụng. Do đó, hành vi cover – dù chỉ là hát lại về bản chất là hành vi khai thác tác phẩm, thuộc phạm vi độc quyền của chủ sở hữu.
theo khoản 3 Điều 20 Luật SHTT, tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, trừ các trường hợp ngoại lệ. Đồng thời, nếu việc cover có thay đổi lời, giai điệu hoặc làm sai lệch nội dung mà không được đồng ý, còn có thể xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm theo Điều 19. Từ đó có thể khẳng định: cover bài hát mà không xin phép trong đa số trường hợp là hành vi có nguy cơ xâm phạm quyền tác giả.
Pháp luật cũng ghi nhận một số ngoại lệ không phải xin phép, không phải trả tiền tại Điều 25 Luật SHTT, ví dụ: biểu diễn trong phạm vi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền không thu tiền hoặc sử dụng cho mục đích cá nhân, nghiên cứu . Dù vậy, các ngoại lệ này được áp dụng rất hạn chế; đặc biệt, việc đăng tải công khai trên internet thường vẫn bị coi là “truyền đạt đến công chúng” nên phải xin phép, kể cả khi không kiếm tiền.
Trong trường hợp không xin phép, hành vi cover có thể bị coi là xâm phạm quyền tác giả theo Điều 28 Luật SHTT (sửa đổi 2022). Người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính đối với hành vi biểu diễn hoặc làm tác phẩm phái sinh không được phép, đồng thời buộc gỡ bỏ nội dung vi phạm.
Tóm lại,cover bài hát chỉ hợp pháp khi có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc thuộc trường hợp ngoại lệ luật định; ngược lại, nếu tự ý cover bài hát và đăng tải công khai, đặc biệt trên nền tảng số, thì rất dễ bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả và có thể bị xử lý theo quy định hiện hành.
3. Mức xử phạt hành vi vi phạm bản quyền cover bài hát của người khác
Căn cứ Điều 10 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, việc cover bài hát của người khác được xem là hành vi làm tác phẩm phái sinh, mức phạt vi phạm bản quyền khi cover bài hát như sau:
- Trường hợp thực hiện việc cover mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả thì cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Nếu việc cover còn làm ảnh hưởng đến quyền nhân thân của tác giả mà không có sự đồng ý bằng văn bản của tác giả thì mức phạt tăng lên từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Ngoài hình phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị buộc gỡ bỏ bản sao vi phạm trên Internet hoặc tiêu hủy các bản sao vi phạm. Đồng thời, mọi khoản lợi nhuận bất hợp pháp thu được từ hành vi xâm phạm cũng phải hoàn trả cho chủ thể quyền tác giả.
Bên cạnh đó, theo Điều 11 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, trường hợp sử dụng bản cover để biểu diễn tác phẩm trước công chúng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả cũng bị xử phạt hành chính như sau:
- Hành vi biểu diễn gián tiếp thông qua bản ghi âm, ghi hình hoặc các phương tiện kỹ thuật khác có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Nếu biểu diễn trực tiếp trước công chúng mà không được phép thì mức phạt cao hơn, từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Ngoài ra, người vi phạm phải hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được từ hoạt động biểu diễn trái phép. Đối với các bản ghi âm, ghi hình vi phạm được đăng tải trên môi trường mạng, cơ quan có thẩm quyền còn có thể yêu cầu gỡ bỏ hoặc xóa bỏ các nội dung vi phạm đó.
4. Không xử lý vi phạm bản quyền khi cover bài hát khi nào?
Căn cứ khoản 1 Điều 62 Nghị định 341/2025/NĐ-CP quy định về các trường hợp không xử lý vi phạm bản quyền như sau:
Điều 62. Từ chối, dừng xử lý đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong xử phạt vi phạm hành chính
1. Cơ quan giải quyết đơn từ chối thụ lý đơn trong các trường hợp sau đây:
a) Đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm được nộp khi đang có tranh chấp, khiếu nại về chủ thể quyền, đối tượng được bảo hộ, phạm vi bảo hộ, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan;
b) Người yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm không đáp ứng yêu cầu của cơ quan giải quyết đơn về việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, hiện vật cần thiết trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 80 của Nghị định số 17/2023/NĐ-CP;
c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Trường hợp đủ điều kiện áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
d) Kết quả xác minh của cơ quan giải quyết đơn cho thấy không có xâm phạm như mô tả trong đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm;
đ) Có kết luận, quyết định hoặc thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc không đủ căn cứ xử lý hành vi xâm phạm;
e) Hành vi bị đề nghị xử lý trong đơn yêu cầu không phải là hành vi vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định này;
g) Đơn yêu cầu đã được cơ quan khác thụ lý giải quyết trong trường hợp đơn được gửi tới nhiều cơ quan cùng thẩm quyền xử lý.
Vậy, hành vi vi phạm bản quyền cover bài hát sẽ không bị xử lý khi đang tồn tại tranh chấp hoặc khiếu nại về chủ thể quyền, đối tượng được bảo hộ, phạm vi bảo hộ hoặc thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền cũng từ chối xử lý nếu người yêu cầu không bổ sung đầy đủ tài liệu, chứng cứ cần thiết theo yêu cầu trong thời hạn luật định hoặc khi vụ việc đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp hết thời hiệu nhưng vẫn đủ điều kiện áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì việc thực hiện sẽ tuân theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Ngoài ra, việc xử lý sẽ không được tiến hành nếu kết quả xác minh cho thấy không có hành vi xâm phạm như nội dung phản ánh trong đơn yêu cầu. Cơ quan có thẩm quyền cũng từ chối xử lý khi đã có kết luận hoặc quyết định xác định không đủ căn cứ xử lý, hoặc khi hành vi bị phản ánh không phải là vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định này. Trường hợp cùng một vụ việc đã được một cơ quan khác có thẩm quyền thụ lý giải quyết thì các cơ quan còn lại sẽ không tiếp tục xem xét. Như vậy, không phải mọi trường hợp cover bài hát bị tố cáo xâm phạm bản quyền đều bị xử phạt, mà việc xử lý phải dựa trên đầy đủ căn cứ pháp lý và điều kiện theo quy định.
Kết luận
Như vậy, việc cover bài hát không đương nhiên bị coi là hành vi vi phạm bản quyền, mà cần xem xét cụ thể mục đích sử dụng và phạm vi khai thác tác phẩm. Trong nhiều trường hợp, người thực hiện bản cover vẫn phải xin phép hoặc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, khi bản cover được đăng tải trên các nền tảng trực tuyến hoặc sử dụng nhằm mục đích thương mại, việc tuân thủ các quy định về quyền tác giả càng trở nên cần thiết. Hiểu đúng và thực hiện đúng các quy định về sở hữu trí tuệ không chỉ giúp hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp pháp lý mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với công sức sáng tạo của tác giả. Qua đó, góp phần xây dựng môi trường sáng tạo lành mạnh, công bằng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của các hoạt động nghệ thuật trong thời đại số.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.